Sự Nghiệp Truyền Giáo tại Việt Nam

(1533-1960)

Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

 

A. Những Nhà Truyền Giáo Đến Việt Nam

 

I. Những Nhà Truyền Giáo Đầu Tiên Đến Việt Nam

Căn cứ theo tài liệu Lịch Sử Dân Sự Quốc Gia Khâm Định Sử đă một lần ghi nhận: "Năm Nguyên Ḥa nguyên niên, tức đời vua Lê Trang Tôn, năm 1533 đă có người Tây tên  là Inekhu đi đường bể vào giảng đạo Thiên Chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh thuộc huyện Nam Châu (tức Nam Trực) và ở làng Trà Lũ huyện Giao Thủy". Rất tiếc là những chi tiết liên hệ tới Inekhu (có lẽ được phiên âm từ Inigo - tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là Inhaxiô) ngày nay không c̣n được ghi nhớ, và do đó không ai biết rơ về tông tích, cũng như về công cuộc truyền đạo của vị thừa sai thứ nhất này.

Theo Linh Mục Marcos Gispert, O.P., nhà sử học ḍng Anh Em Thuyết Giáo đă sống tại Việt Nam 34 năm trời, sau Inekhu c̣n một số nhà truyền giáo khác như:

- Linh Mục Gaspar de S. Cruz: năm 1550 từ Malacca đổ bộ lên Hà Tiên và sau đó từ cửa biển Bà Rịa đi Quảng Đông.

- Hai Linh Mục Lopez và Acevedo: năm 1558 đă tới giảng vùng Cao Miên 10 năm.

- Hai Linh Mục Luis de Fonseca, O.P. (Bồ) và Grégoire de la Motte, O.P. (Pháp) cũng từ Malacca tới, suốt 6 năm đi truyền đạo tại Quảng Nam đời Chúa Nguyễn Hoàng vào thời gian 1580-1586. Chính quân đội Nguyễn Hoàng đă giết Linh Mục de Fonseca trong khi ngài hành lễ, c̣n Linh Mục Grégoire de la Motte về sau cũng chết v́ bị trọng thương.

 

II. Những Nhà Truyền Giáo Ḍng Tên Đến Việt Nam

Rồi đến lượt các Linh Mục Ḍng Tên: theo chân thánh Phanxicô Xaviê truyền đạo tại Nhật Bổn (1549), bị Hoàng Đế Daifusama trục xuất khỏi đất Phù Tang năm 1614, kéo nhau về tập trung tại trụ sở Macao (khác nào như một đầu cầu thành lập từ năm 1564). Làm sao ḱm hăm được sự hăng say của những nhà truyền giáo. Ngày 15/1/1615 hai Linh Mục Buzomi và Diego Carvalho cùng ba thày giúp việc tới Đà Nẵng. Sau đó ngày 15/1/1627 - nhằm ngày lễ kính thánh Giuse - Linh Mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đă cập bến Cửa Bạng (Thanh Hóa) tiếp tay cho các bạn đồng nghiệp. Và từ đó phát triển sự nghiệp truyền đạo không những bằng mục vụ thường xuyên, nhưng nhất là bằng cách hoàn bị việc thành lập chữ Quốc Ngữ -  chúng ta đang có ngày nay - để phổ biến sự truyền bá Đức Tin, và tổ chức Nhà Đức Chúa Trời (1629), tức là tập trung khắp nơi từng nhóm thanh thiếu niên (hay cả người đă đứng tuổi) thiện chí, sống đời độc thân và cùng với các Linh Mục - trong giáo xứ hay là trong các nơi xa xôi hẻo lánh - chia sẻ việc truyền đạo, nhất là chuyện dạy giáo lư cho dân chúng.

Các Linh Mục Ḍng Tên ở lại Việt Nam cho tới năm 1788. Vắng bóng đi trong một thời gian lâu 169 năm (1788-1957). Nhưng rồi Giáo Hội Việt Nam yêu cầu các ngài trở lại năm 1957, để ngày 13/9/1958 nhận trách nhiệm điều khiển Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X tại Đà Lạt, đồng thời khuyếch trương nhiều hoạt động khác nhau trong lănh vực văn hóa xă hội.

 

III. Hội Thừa Sai Paris (Les Missions Etrangeres de Paris) Đến Việt Nam

Ngày 3/7/1645 Linh Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) rời Việt Nam về giáo đô Roma báo cáo cho Ṭa Thánh về những tiến triển mau chóng trong việc truyền đạo tại Việt Nam, nhất là xin gửi một số Giám Mục đến cánh đồng ph́ nhiêu này để củng cố nền móng Giáo Hội. Ngài được Roma cho phép rảo khắp đất Pháp đi t́m những ơn kêu gọi, t́m những Linh Mục sẵn sàng xung phong và tiếp tục công việc đă khởi sự với nhiều thành quả may mắn: tại đây mới có Hội Thừa Sai Paris. Hội ra đời năm 1660 và được chấp nhận năm 1664 đời Đức Giáo Hoàng Alexandrô VII. Cũng vị Giáo Hoàng này đă kư sắc lệnh bổ nhiệm hai Giám Mục đầu tiên cho Viễn Đông: Đức Cha Phanxicô Pallu và Đức Cha Lambert de la Motte.

Hội Thừa Sai Paris có công lớn với Giáo Hội Việt Nam bằng cách:

- Đă triệu tập Hội Nghị Mục Vụ đầu tiên: ngày 14/2/1670 tại Đ́nh Hiến tỉnh Nam Định, Đức Cha Lambert de la Motte đă qui định thể chế Nhà Đức Chúa Trời, và thành lập Ḍng Mến Thánh Giá Việt Nam: các chị em Nữ Tu là những cộng tác viên rất đắc lực của hàng Giáo Phẩm trong việc truyền đạo bên cạnh giáo dân, nhất là trong các vùng thôn quê.

- Đă xây dựng Đại Chủng Viện Penang (1870) để đào tạo các linh Mục bản xứ Á Châu và Việt Nam: các thánh Linh Mục Tử Đạo miền Nam đều xuất thân từ đây; và suốt ba thế kỷ đă sống chết với Giáo Hội địa phương cho tới sáng 12/8/1975, ngày mà các vị Thừa Sai Ngoại Quốc sau cùng được mời ra khỏi Việt Nam.

 

IV. Ḍng Anh Em Thuyết Giáo (Ḍng Đa Minh) Đến Việt Nam

Theo lời mời của Đức Cha Phanxicô Pallu v́ những đ̣i hỏi rất khẩn trương tại Việt Nam: số tín hữu tân ṭng tiếp tục gia tăng, Linh Mục Giám Tỉnh Ḍng Anh Em Thuyết Giáo Felipe Pardo, O.P., từ Manila đă phái hai Linh Mục Juan de Santa Cruz và Juan Arjona đi lối Trung Linh (Bùi Chu) lên Phố Hiến (Hưng Yên) ngày 7/7/1676. Các ngài vẫn hoạt động chung với Hội Thừa Sai Paris cho tới thập năm 1659 Đức Alexandro VII ban sắc lệnh thành lập hai Giáo Phận đầu tiên: Đàng Trong và Đàng Ngoài (Nam và Bắc: lấy con sông Gianh làm biên giới).

Năm 1679 Đức Innocenxio XI lại chia Giáo Phận Đàng Ngoài thành hai: Tây Đàng Ngoài (từ sông Hồng Hà tới ranh giới Ai Lao) trao cho Hội Thừa Sai Paris dưới quyền quản nhiệm Đức Cha de Bourges, và Đông Đàng Ngoài (từ tả ngạn sông Hồng Hà chạy ra biển): lúc ban đầu cũng do Giám Mục Deydier của Hội Thừa Sai Paris phụ trách. Năm 1693 Giám Mục Deydier qua đời, Đức Cha De Bourges xin Ṭa Thánh trao giáo phận này cho Ḍng Thánh Đa Minh, v́ từ 20/8/2679 tất cả số nhân sự của Ḍng đă tập trung về đây.

Đồng thời, Cha Tổng Quyền Ḍng Anh Em Thuyết Giáo sát nhập các cơ sở truyền giáo của Hội Ḍng tại Bắc Việt hồi đó vào Tỉnh Ḍng Đức Mẹ Mân Côi tại Phi Luật Tân. Từ Nhà Tổng Quyền S. Sabina (tại Roma) cha Raimondo Lezoli, O.P., được Thánh Bộ Truyền Giáo đề cử sang tiếp tay với cha Juan de Santa Cruz hồi đó đang ở Trung Linh, về sau Ṭa Thánh yêu cầu ngài chính thức lănh trách nhiệm tất cả miền Đông. Ngày 2/2/1702 tại Kẻ Sặt cha Raimondo Lezoli được thụ phong Giám Mục tiên khởi của Ḍng Đa Minh tại Bắc Việt. Nền móng vững chắc Đa Minh đă được xây dựng trên mảnh đất Việt Nam, và một trong những hạt giống Ḍng Thuyết Giáo đă gieo sâu trong ḷng dân tộc bản xứ, tức là sự tôn sùng tràng hạt Đức Mẹ Mân Côi vẫn c̣n tồn tại cho tới ngày nay.

Ngày 18/3/1967, tức 291 năm sau (1676-1967), Cha Bề Trên Tổng Quyền Aniceto Fernandez tuyên bố: đă tới thời gian tách rời Việt Nam ra khỏi Phi Luật Tân, và thành lập Tỉnh Ḍng Anh Em Thuyết Giáo riêng biệt với danh hiệu Tỉnh Ḍng Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

 

V. Những Hội Ḍng Khác

Ngoài mấy Hội Ḍng lớn kể trên đây - đă sống chết với Giáo Hội Việt Nam - c̣n hai Hội Ḍng khác cũng đến truyền đạo tại xứ sở chúng ta:

1. Ḍng Anh Em Thánh Augustinô (Augustiniani Scalzi):

Hoạt động tại Bắc Việt, tuy nhiên chỉ trong ṿng hơn 60 năm (1701-1765): 15 vị Thừa Sai Ngoại Quốc - trong đó có Giám Mục Ilario Costa di Gesu (1735-1754) - 6 Linh Mục Việt Nam, và 2 Linh Mục khác, người Bồ, thường xuyên ở Cửa Hàn, làm tuyên úy cho cộng đoàn nhỏ bé người Bồ Đào Nha phần nhiều là những thương gia đi qua đi lại, hay là trú ngụ tại đó từ trước năm 1596.

2. Ḍng Phanxicô khó nghèo (Ordo Fratrum Minorum: OFM):

Từ năm 1583 đă có vết chân hai Giáo Sĩ P. Alfara và B. Ruyz tại miền Nam Việt Nam, nhưng v́ gặp rất nhiều khó khăn nguyên do từ cạnh tranh giữa hai khối Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, việc truyền đạo của Ḍng Phanxicô bị gián đoạn và sau cùng bị bỏ dở. Măi đến năm 1711 Ḍng Phanxicô trở lại hoạt động tại giáo phận Đàng Trong (một nửa tỉnh Đồng Nai và kiêm luôn Cao Miên). Nhưng thời cuộc lúc đó cũng không may mắn hơn trước:

- Một đàng số giáo sĩ Bồ Đào Nha - quá nương tựa vào ảnh hưởng Hoàng Gia nước Bồ - không chịu nhận quyền hành của hàng Giáo Sĩ do Ṭa Thánh Roma trực tiếp bổ nhiệm;

- Đàng khác sự bất đồng ư kiến giữa các Hội Thừa Sai về vấn đề "thờ cúng tổ tiên" và một vài phong tục cổ truyền: Ḍng Tên và Ḍng Phanxicô tán thành, trái lại Hội Thừa Sai người Pháp chống đối. Đức Clemente XIII năm 1738 đă cử phái đoàn do Giám Mục De La Baume sang tận nơi điều tra và ổn định t́nh thế.

- Sau cùng, vào năm 1750, Vơ Vương (Nguyễn Phước Khoát 1725-1765) đột nhiên ra lệnh đuổi hết Giáo Sĩ ngoại quốc ra khỏi lănh thổ. Tất cả 28 Giáo Sĩ bị lùng bắt và hạ ngục, trong số đó Giáo Sĩ Michel de Salamanque (thuộc Ḍng Phanxicô Tây Ban Nha) chết rũ tù ngày 14/7/1750.

Trong Việt Nam Công Giáo Niên Giám c̣n kể thêm: vị Thừa Sai sau cùng Ḍng Phanxicô là Thánh Odoric De Collodi - bị giam đồng thời với hai Thánh Gagelin và Jaccard thuộc Hội Thừa Sai Paris - ngày 23/5/1834 đă tắt thở trong ngục Lao Bảo "buồn vô hạn v́ không được lấy máu đào làm chứng cho Chúa Giêsu".

Như thế Ḍng Phanxicô đă hoạt động hơn một thế kỷ (1711-1833), có cả một Giám Mục: Đức Cha Valeriô Rist (1737). Sau đó vắng đi một thời gian (gần một thế kỷ nữa) năm 1929 Đức Cha A.J. Eloy, Giám Mục giáo phận Vinh, được sự chấp thuận của Bộ Truyền Giáo và Bộ Tu Sĩ, đă đặt giấy mời các Cha Ḍng Thánh Phanxicô trở lại Việt Nam. Ngày 21/11/1929 Giáo Sĩ Maurice Bertin và một số Tu Sĩ Ḍng Phanxicô đă lên bến Đà Nẵng, và đặt cơ sở đầu tiên tại thị xă Vinh ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội: 8 tháng 12 năm 1931.

Chúng ta thấy công tŕnh truyền đạo từ lúc khai nguyên với hai giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài (1659) suốt ba thế kỷ đă phát triển không ngừng. Ngày nay đă thành 25 giáo phận (10 ngoài Bắc và 15 trong Nam).

 

B. Những Giáo Phận của Việt Nam từ thuở ban đầu

 

- Ngày 9/7/1659: Đức Thánh Cha Alexandre VII ban sắc bổ nhiệm hai linh mục Francois Pallu và Lambert de la Motte làm Giám Mục Tiên Khởi hai giáo phận đầu tiên tại ViệtNam:

+ Giáo Phận Đàng Trong: từ sông Gianh trở vào Nam, bao gồm Cao Miên và Chiêm Thành, trao cho Đức Cha Pallu

+ Giáo Phận Đàng Ngoài: từ sông Gianh trở ra Bắc và miền Nam Trung Hoa, trao cho Đức Cha Lambert de la Motte.

- Ngày 31/1/1668: tại Juthia kinh đô Thái Lan, Đức Cha Lambert de la Motte tấn phong linh mục cho 4 thày giảng: Cha Giuse Trang và Luca Bền, thuộc giáo phận Đàng Trong; cha Gioan Huệ và Benedictô Hiền, thuộc giáo phận Đàng Ngoài. Đây là 4 vị linh mục tiên khởi của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

- Năm 1669: Đức Cha lambert de la Motte tấn phong thêm 7 vị linh mục Việt Nam.

- Năm 1670: Đức Cha lambert de la Motte chuẩn y thành lập Ḍng Mến Thánh Giá cho các nữ tu Việt Nam.

- Năm 1678: Đức Cha Pallu từ Thái Lan về Rome, đề nghị tấn phong giám mục cho 6 linh mục trong số các linh mục tiên khởi. Tiếc rằng đề nghị này đă bị Ṭa Thánh bác bỏ.

- Năm1679: Giáo Phận Đàng Trong tách rời thành hai giáo phận mới, lấy sông Hồng Hà làm ranh giới. Hai giáo phận Đàng Ngoài gồm 2 giám mục, 7 vị thừa sai Pháp, 11 linh mục Việt Nam và hơn 200,000 tín hữu:

+ Giáo Phận Đông Đàng Ngoài (Hải Pḥng): từ sông Hồng Hà và các tỉnh ven biển, trao cho Đức Cha Deydier đảm nhiệm.

+ Giáo Phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội): từ sông Hồng đến biên giới Ai Lao, đặt dưới sự cai quản của Đức tân Giám Mục De Bourges.

-Năm 1693: Đức Cha Deydier (Giáo Phận Đông Đàng Ngoài) mất, Đức Cha De Bourges phải cai quản hai giáo phận. V́ t́nh trạng thiếu hụt Thừa Sai, nên Đức Cha De Bourges đă nhượng địa phận Đông cho Ḍng Đa Minh, trụ sở tại Manila (Phi Luật Tân).

- Năm 1844: Đức Thánh Cha Grégoire XVI chia giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận mới:

+ Giáo Phận Bắc Đàng Trong (Qui Nhơn): do Đức Cha Cuenot Thể đảm nhiệm;

+ Giáo Phận Nam Đàng Trong (Sàig̣n): trao cho Đức tân Giám Mục D . Lefebre Ngăi.

- Năm 1846: Giáo Phận Tây Đàng Ngoài được cắt để thành lập Giáo Phận Vinh. Tân giáo phận bao gồm Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và một phần tỉnh Quảng B́nh, được ủy thác cho Đức Cha J. Gauthier Hậu.

- Năm 1848: Ṭa Thánh thiết lập thêm địa phận mới gồm hai tỉnh Nam Định và Hưng Yên, tách rời từ Giáo Phận Đông để thành lập Giáo Phận Bùi Chu (Trung). Tân Giáo Phận được giao cho Đức Cha D. Martin Gia cai quản.

- Năm 1850: Ṭa Thánh cắt giáo phận Bắc Đàng Trong gồm các tỉnh Quảng B́nh, Thừa Thiên, Quảng Trị để thành lập Giáo Phận Huế, và đặt Đức Cha Pellerin (Phan) cai quản.

- Năm 1850: Giáo Phận Nam Vang tách rời từ giáo phận Sàig̣n và trao lại cho Đức Cha J. Michel Mịch.

- Năm 1883: Giáo Phận Bắc Ninh được thành lập, tách rời từ giáo phận Hải Pḥng, và bao gồm các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Cao Bằng. Tân giáo phận trao cho Đức Cha Colomer Lễ.

- Năm 1895: Giáo Phận Hưng Hóa gồm các tỉnh Sơn Tây, Yên Bái, Ḥa B́nh và Lai Châu được thành lập. Tân giáo phận trao lại cho Đức Cha Paul Maris Raymond.

- Năm 1901: Giáo Phận Phát Diệm (Thanh) được thành lập gồm hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh B́nh. Tân giáo phận tách rời từ giáo phận Hà Nội, và đặt dưới sự cai quản của Đức Cha Alexandre Marcou Thành.

- Năm 1913: Hạt Phủ Doăn Lạng Sơn được thành lập, tách rời từ giáo phận Bắc Ninh và được ủy thác cho các vị thừa sai ḍng Đa Minh Lyon đảm trách.

- Năm 1932: Giáo Phận Thanh Hóa gồm các tỉnh Thanh Hóa và Sầm Nứa (Ai Lao) được thiết lập. Tân giáo phận tách rời từ giáo phận Phát Diệm, và đặt dưới sự cai quản của Đức Cha Louis de Cooman Hành.

- Năm 1932: Giáo Phận Kontum được thành lập, bao gồm 3 tỉnh Kontum, Darlac, Pleiku; tân giáo phận tách rời từ địa phận Qui Nhơn và đặt dưới sự hướng dẫn của Đức Cha Jannin Phước.

- Ngày 11/6/1933, tại Đền Thánh Phêrô (Rome), Đức Thánh Cha Piô XI đă tấn phong vị Giám Mục tiên khởi cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là Đức Cha Baotixita Nguyễn Bá Ṭng. Ngài là Giám Mục phó với quyền kế vị giáo phận Phát Diệm.

- Năm 1935: Đức Cha Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn, vị giám mục thứ hai Việt Nam được tấn phong tại nhà thờ Phú Cam (Huế). Ngài là Giám Mục phụ tá với quyền kế vị giáo phận Bùi Chu.

- Năm 1936: Giáo Phận Thái B́nh được thiết lập, tách rời từ giáo phận Bùi Chu, bao gồm hai tỉnh Thái B́nh, Hưng Yên. Tân giáo phận đặt dưới sự cai quản của Đức Cha Cassado Thuận.

- Năm 1938: Giáo Phận Vĩnh Long gồm các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre (Kiến Ḥa) và Trà Vinh (Vĩnh B́nh). Tân giáo phận tách rời từ giáo phận Sàig̣n và trao cho Đức Cha Phêrô Martino Ngô Đ́nh Thục. Ngài được tân phong vào ngày 4/5/1938 tại Huế, do Đức Khâm Sứ Ṭa Thánh tại Việt Nam là Đức Cha Drapier chủ sự.

- Năm 1939: Giáo Phận Lạng Sơn: Hạt Lạng Sơn được Ṭa Thánh nâng lên hàng Giáo Phận, và trao cho Đức Cha Felix (Minh ) quản nhiệm.

- Năm 1940: Thêm một vị giám mục nữa được tấn phong là Đức Cha Gioan Maria Phan Đ́nh Phùng. Ngài là Giám Mục phụ tá với quyền kế vị địa phận Phát Diệm.

- Năm 1944: Đức Cha Gioan Maria Phan Đ́nh Phùng tạ thế. Cố giám mục sinh tại làng Kiến Thái, Kim Sơn (Phát Diệm). Sau khi hoàn tất học vấn tại chủng viện Phúc Nhạc, Ngài du học tại Giáo Hoàng Học Viện Penang, thụ phong linh mục ngày 5/4/1924 và được đề cử làm giáo sư chủng viện Penang cho đến năm 1940, và được Ṭa Thánh tấn phong Giám Mục vào ngày 3/12/1940. Ngài mất đột ngột vào ngày 28/5/1944 tại tu viện Châu Sơn, Nho Quan.

- Năm 1945: Sau đệ nhị thế chiến, Ṭa Thánh lưu tâm đến việc tuyển chọn hàng giáo sĩ Việt Nam lên phẩm trật Giám Mục để lèo lái con thuyền giáo hội Việt Nam. Ṭa Thánh bổ nhiệm giám mục mới: Đức Cha Anselmo Lê Hữu Từ, bấy giờ đang là Bề Trên Đan Viện Xitô Phước Sơn (Nho Quan). Ngài là vị giám mục thứ năm người Việt Nam.

- Năm 1948: Đức Cha Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn từ trần. Cố giám mục sinh ngày 3/12/1876 tại Ba Châu (Huế), theo học tiểu chủng viện An Ninh (Quảng Trị), đại chủng viện Phú Xuân (Huế). Ngài thụ phong linh mục ngày 20/12/1902, sau đó lần lượt giữ chức cha phó xứ Kẻ Văn, chánh xứ Kẻ Hạc, giáo sư chủng viện An Ninh (1910). Năm 1935, Đức Cha Monagorri mất, Đức Cha Đa Minh chính thức nhận quyền Giám Mục Bùi Chu. Đức Cha Đa Minh mất ngày 27/11/1948 tại Bùi Chu sau 12 năm cai quản giáo phận.

- Năm 1950: Đức tân Giám Mục Đa Minh Hoàng Văn Đoàn được tấn phong Giám Mục tại Rome ngày 3/9/1950, và nhận quyền Giám Mục giáo phận Bắc Ninh.

- Năm 1950: Đức Cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê được tấn phong Giám Mục, và đảm nhận địa phận Hà Nội.

- Năm 1950: Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi được tấn phong Giám Mục và đảm nhận giáo phận Bùi Chu.

- Năm 1950: Đức Cha tiên khởi Gioan Baotixita Nguyễn Bá Ṭng tạ thế. Ngài sinh ngày 7/8/1868 tại G̣ Công, theo học các trường các thày ḍng tại Định Tường đến năm 1880. Sau đó Ngài được gửi theo học tại Đại Chủng Viện Sàig̣n. Ngày 19/9/1896, Đức Cha Depiere tấn phong linh mục cho cha Gioan Baotixita và chọn người làm thư kư Ṭa Giám Mục. Trước khi được tấn phong giám mục, ngài lần lượt giữ chức cha sở họ Tân Định, Bà Rịa. Năm 1935, Đức Cha Marcou Thành từ chức, trao quyền Giám Mục giáo phận Phát Diệm cho Đức Cha Nguyễn Bá Ṭng. Đây là giáo phận thứ nhất được ủy thác cho hàng giáo sĩ Việt Nam.

- Năm 1951: Giáo phận Vinh trao cho đức tân Giám Mục Baotixita Trần Hữu Đức.

- Năm 1953: Đức Cha Giuse Trương Cao Đại nhận quyền Giám Mục giáo phận Hải Pḥng. Đức tân giám mục sinh ngày 4/6/1913 tại làng Tiền Môn, An Lập, Thái B́nh. Năm 1927, ngài theo học tại tiểu chủng viện Ninh Cường, sau đó tại Giáo Hoàng Học Viện Nam Định. Năm 1936, ngài được gửi sang học ở Đa Minh Học Viện tại Hương Cảng, sau đó tại Manila (Phi Luật Tân) và đậu tiến sĩ tại đại học Thánh Thomas. Năm 1953, Ṭa Thánh chọn ngài làm giám mục cai quản địa phận hải Pḥng, nhưng được hơn một năm th́ phải di cư vào Nam. Ngài định cư tại Madrid (Tây Ban Nha) và mất tại đó vào năm 1955.

- Năm 1955: Giáo Phận Cần Thơ được thành lậop và được giao cho đức tân Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn B́nh. Ngài sinh tại Tân Định ngày 1/9/1910, gia nhập tiểu chủng viện Sàig̣n năm 1922. Năm 1932, Đức Cha Dumortier gửi ngài qua Rome theo học trường Truyền Giáo, và thụ phong linh mục năm 1937. Trước khi Ṭa Thánh chọn Ngài làm Giám Mục, cha B́nh lần lượt giữ các chức vụ như: giáo sư chủng viện (1943), tuyên úy các sư huynh Sàig̣n. Năm 1948, thực hiện tờ báo Tông Đồ, cha xứ họ Cầu Đất. Ngày 20/9/1955, Ṭa Thánh chọn ngài làm Giám Mục cai quản tân giáo phận Cần Thơ. Năm 1960, Đức Cha B́nh thuyên chuyển về Sàig̣n và làm Tổng Giám Mục địa phận Sàig̣n cho đến ngày qua đời.

- Năm 1955: Đức Cha Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền được tấn phong Giám Mục, và đảm nhận giáo phận Sàig̣n, thay thế Đức Cha Cassaige Sanh từ chức để đi làm tuyên úy Trại Cùi Di Linh.

- Năm 1957: Ṭa Thánh cắt hai tỉnh Khánh Ḥa và Ninh Thuận (thuộc địa phận Qui Nhơn) và hai tỉnh B́nh Thuận và B́nh Tuy (thuộc địa phận Sàig̣n) để thiết lập Giáo Phận Nha Trang. Tân giáo phận này trao cho Đức Cha Piquet Lợi.

 

(Các tài liệu được trích dẫn từ:

- tập sách Giáo Hội Việt Nam của  Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ,

- bài T́m Hiểu Giáo Hội Việt Nam của Nguyễn Vũ Tuấn Linh)