MỤC VỤ RAO GIẢNG LỜI CHÚA

              Trang chủ | Trang chính  |Trang mục vụ ngôn sứ | Trang mục vụ tư tế | Trang mục vụ cai quản | Trang thông tin liên lạc | Trang nối kết website | Trang diễn đàn     

CHUYÊN ĐỀ

BÀI GIẢNG LINH MỤC

 

________________ 

RAO GIẢNG LỜI CHÚA

HUẤN ĐỨC - TU ĐỨC - THAM LUẬN

 

LINH MỤC NGƯỜI LÀ AI ?

(Đôi điều gợi ư suy tư và chia sẻ

Bài 1 : LINH MỤC, CHỨNG NHÂN ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN

_________________       

(BÀI CHIA SẺ DỊP TĨNH TÂM LINH MỤC NĂM 2003

THỨ NĂM  13.03.2003)

Bài đọc I : Et 14, 1-3-5.12-14

Tin Mừng : Mt 7,7-12.

Dẫn nhập :   Trọng kính…

Kính thưa…

Có một người thưa với Mẹ Tê-rê-xa :"Thưa Mẹ Tê-rê-xa,  Mẹ đă yêu thương đám quần chúng mà người khác xem họ như  những đống rác rưởi của nhân loại. Con muốn biết nhờ bí quyết nào mà Mẹ có thể yêu thương được như thế?". Mẹ Tê-rê-xa từ tốn trả lời :"Bí quyết của tôi thật giản đơn : Tôi cầu nguyện".

          Trong khi đó W.Grossoum lại nh́n thế giới với không ít bi quan khi nhận xét rằng :"Thế giới đang bịnh hoạn v́ thiếu t́nh yêu. Thiếu t́nh yêu v́ chúng ta không cầu nguyện đủ".

          Kính thưa…

          Để cho gần gũi và thực tế hơn, con muốn thay hai từ “Thế Giới” của câu nói trên bằng hai từ “Giáo Xứ”. “Giáo xứ của tôi đang bịnh hoạn v́ thiếu t́nh yêu. Thiếu t́nh yêu v́ tôi, linh mục quản xứ, đă không cầu nguyện đủ”

          Không biết Quí … đă và đang thực hiện đời sống cầu nguyện thế nào con không rơ, nhưng bản thân con, khi nghiêm túc đối diện với cộng đoàn, với cơi ḷng, với Lời Chúa …con cảm thấy hổ thẹn và mắc cở. Quả thật, so với một số anh chị em giáo dân, con chưa cầu nguyện đũ; đối diện với đ̣i hỏi căn bản của đời sống mục tử, con chưa cầu nguyện đũ ; đặt ḿnh trước lời mời gọi của Chúa, của Tin Mừng, con chưa cầu nguyện đũ. Và v́ chưa cầu nguyện đũ nên con không thể nào “làm cho Chúa Giêsu hiện diện”, theo như đ̣i hỏi của căn tính linh mục mà trong tông huấn “Pastores dabo vobis”, ĐGH G.P. II đă nêu bật : “Như vậy, các linh mục được mời gọi nối dài sự hiện diện của Đức Kitô, vị Mục Tử duy nhất và tối cao, bằng cách noi theo lối sống của Ngài và bằng cách làm sao cho ḿnh như thể được Ngài xuyên thấu ngay giữa đàn chiên được giao phó cho ḿnh” (Sđd số 15). Và phải chăng, lừ lư do căn cốt nầy mà bao nhiêu điều tiêu cực của cộng đoàn chưa được khắc phục hoặc đang phát triển, sinh hoạt mục vụ của giáo xứ nhạt nhẽo, nghèo nàn, thiếu sinh động…

          Cho nên, nếu phải bắt đầu lại để củng cố cộng đoàn, để xây dựng một “phương án mục vụ” đầy tính thuyết phục và hiệu quả cho giáo xứ, có lẽ chúng ta nên bắt đầu từ đây : LINH MỤC, CHỨNG NHÂN ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN.

1.Đức Kitô, Chứng nhân đời sống cầu nguyện :

Qua những chỉ dẫn của Tin Mừng, chúng ta gặp một Đức Ki-tô có một đời sống cầu nguyện sâu xa, liên lỉ.

- Từ sáng sớm đến chiều tối, Ngài đắm ḿnh trong cầu nguyện với Chúa Cha (Mt 14, 23).

- Người cầu nguyện một ḿnh trong nơi thanh vắng (Lc 9, 18).

- Người cầu nguyện ngay cả lúc người ta đang t́m Ngài (Mc 1, 37).

- Người cầu nguyện trong những lúc hệ trọng liên quan đến sứ vụ cứu thế như :       

Khi lănh phép rửa của Gioan. (Lc 3, 21).

Khi vào hoang mạc 40 đêm ngày chuẩn bị cho giai đoạn công khai của sứ vụ cứu thế. (Mt 4, 7).

Khi chọn nhóm Mười Hai làm Tông Đồ (Lc 6, 12).

Khi hiển dung trên núi Ta-bo (Lc 9, 29).

Trước khi chịu khổ nạn : - Lời nguyện tế hiến (Ga 17) - Lời nguyện trong Vườn Cây Dầu (Lc 22, 42).

Khi bị treo trên thập giá cho đến chết (Lc 23, 34-46)

2. Lư do tôi chưa cầu nguyện đủ

rất nhiều lư do được nại đến để tôi tự miển chước cho ḿnh thực hành nghiêm túc việc cầu nguyện : nào phải lo giải tội, phải đi thăm giáo dân, phải soạn bài giảng tỉnh tâm cho hội đoàn nầy, hội đoàn nọ, phải đi kẻ liệt, phải dạy giáo lư… Cho tới một lúc, việc cầu nguyện không c̣n là một yêu cầu thiết thân, mà chỉ là một giờ thiêng liêng phụ tuỳ, có cũng được mà không cũng chẳng hệ ǵ. Tuy nhiên, cái lư do sâu xa, cơ bản khiến chúng ta chưa cầu nguyện đủ, vẫn là thái độ tự măn, thiếu cảnh giác, và lười biếng. Và đó là lư do, là khởi đầu cho  mọi biến chất, ngă quỵ, đào ngủ của bao anh em linh mục chúng ta. Chúng ta có thể đọc thấy điều nầy trong tâm sự của một linh mục  trong tác phẩm “Mầu nhiệm linh mục” :

 “Làm linh mục chưa được 3 năm, v́ thiếu tinh thần cầu nguyện, trong lúc cố công giúp đỡ một người, con đă lạc vào mê hồn trận lúc nào không hay. Con đă thụp sâu xuống nước mà vẫn cứ tưởng ḿnh đang bước trên sóng. . Chỉ lúc Chúa chụp lấy ném lên bờ, con mới nhận ra ḿnh đă ướt nhẹp. Ngôn ngữ hành vi như nghiêm trang cứng cỏi mà ḷng con đă quỵ ngă mất rồi”.

Sứ điệp Lời Chúa trong thánh lễ hôm nay, đặc biệt h́nh tượng Nữ hoàng Esther trong bài đọc I là một mẫu gương, một điển h́nh tuyệt vời về thái độ cầu nguyện đáng cho hàng linh mục chúng ta suy nghĩ và áp dụng . Con t́m thấy hai khía cạnh nầy :

Thấy được nổi bi đát, giới hạn, khốn cùng của ḿnh và đặt ḿnh nương tựa vào Chúa : “Nữ hoàng Et-te kinh hoàng v́ lâm nguy, nên t́m nương tựa nơi Chúa…Xin cứu tôi đang sống cô độc, ngoài Chúa, không có ai khác giúp đỡ tôi. Tôi đang lâm cơn nguy biến”

Nếu một ngày nào đó tôi tự nhủ rằng : Tôi đă trưởng thành rồi, tôi được đào tạo chính qui, tôi hiểu biết mọi linh đạo của các thánh, tôi không học được ǵ nơi giáo dân của tôi, cộng đoàn của tôi, v́ họ dốt quá, tôi sống như  thế là quá đủ quá tốt rồi, sinh hoạt mục vụ của tôi không có vấn đề ǵ đáng lo… chúng ta hăy coi chừng, thái độ tự măn, hợm ḿnh đó sẽ làm cho chúng ta đánh mất căn tính linh mục của ḿnh, biến chúng ta thành một “viên chức” mục vụ mị dân và rổng tuếch, một thứ “con rối mục vụ” với một lô những chuyện bày đặt chẳng đem lại lợi ích thiêng liêng nào cho chính ḿnh và cho cộng đoàn, cho Giáo Hội…

Hăy bắt chước Bà Ét-te, luôn t́m thấy nổi khốn cùng của thân phận, chỗ bế tắt trong cuộc sống, nổi hiểm nguy của hoàn cảnh…. để mau mắn, thiết tha chạy đến t́m nương tựa nơi Chúa.

Để Chúa hành động, để Chúa thể hiện quyền năng, sự khôn ngoan một cách tích cực trên chính cuộc đời ḿnh : “Xin hăy nhớ Lời Chúa. Xin hăy làm điều Chúa nói. Xin ban cho tôi ḷng tin tưởng. Xin đặt trong miệng tôi những lời khôn khéo…Xin Chúa ra tay giải thoát chúng tôi và phù trợ tôi, v́ lạy Chúa, ngoài Chúa là Đấng thông suốt mọi sự, không ai giúp đỡ tôi”.

          Trong bối cảnh xă hội đa phương tiện, giàu có, tiến bộ, phải chăng người linh mục chúng ta có khuynh hưởng giải quyết mọi sự bằng những phương tiện, cách thế trần tục : Sách vở đầy đủ, tài liệu ê hề trên mạng internet, chỉ cần vài cái nhấp chuột là có một bài giảng Chúa Nhật đầy đủ, súc tích, soạn làm ǵ, cầu nguyện làm chi cho mất giờ. Rồi giáo lư, hội đoàn, huấn luyên  nhân sự : tiền là trên hết, có tiền sẽ giải quyết được mọi vấn đề. Và cứ như thế, cái ưu tư thường xuyên là làm sao cho có nhiều phương tiện, tiền bạc, cơ sở… mà không tính ǵ đến nhân tố nền tảng là Thiên Chúa. Mà nhân tố nầy lại chỉ có được nhờ cầu nguyện, cầu nguyên thiết tha và khiêm hạ. Lời cầu nguyện của Bà Ét-Te trong bài đọc I hôm nay hoàn toàn mang chiều kích tích cực : cầu nguyện để Chúa giúp chúng ta thủ giữ vai tṛ của chúng ta, chứ không phải bỏ mặc cho Chúa, c̣n chúng ta khoanh tay ngồi đó mà đợi. Đó cũng chính là điều mà Tông huấn “Pastores dabo vobis” đă khẳng định bằng những lời thâm thuư sau : “Thiên Chúa ưa thích biểu lộ những sự việc cao cả của Ngài qua những con người niềm nở và ngoan ngùy đối với sự thúc đẩy và dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, qua những con người sống kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô và sống đời sống thánh thiện nhờ đó có thể nói như Thánh Tông Đồ : “Nếu tôi sống, th́ không c̣n phải là tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi”. (Gl2,20) (Sđd số 25)

3. Linh mục, chứng nhân của đời sống cầu nguyện :

          Trong kinh nghiệm quản xứ của con, đặc biệt trong lănh vực huấn giáo, điều mà con băn khoăn và cảm thấy khó khăn nhất đó là việc huấn luyện đời sống cầu nguyện cho giáo dân, cho thiếu nhi, thanh niên. Và con tự nhận rằng, một trong nhân tố chính của nổi khó khăn nầy là v́ con chưa là một “chứng nhân của đời sống cầu nguyện”. Bởi v́ con thiết nghĩ, có nhiều chuyện chúng ta có thể dùng lư thuyết suông, dùng kỷ thuật, dùng khéo tay, lạ mắt...nhưng việc cầu nguyện th́ phải là một chứng từ sống, một mẫu gương. Đúng như lời của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI : “Thế giới ngày nay người ta tin các chứng nhân hơn là thầy dạy. Mà nếu có tin thầy dạy, là v́ thầy dạy đó chính là chứng nhân”.

          Sở dĩ Đức Kitô trong trích đoạn Tin Mừng hôm nay dạy một cách chắc chắn, nói một cách xác tín : “Anh em cứ xin th́ sẽ được, cứ t́m th́ sẽ thấy, cứ gơ th́ sẽ mở cho…” bởi v́ Ngài dạy, Ngài nói như là một chứng nhân sống động, Ngài luôn kết hợp với Chúa Cha trong Thần Khí, Ngài thuộc về Cha trên mọi nẽo đường, mọi biến cố của đời Ngài : “Của ăn của Ta là làm theo ư Đấng đă sai Ta”. Chắc chắn nhờ một đời sống là “Chứng nhân” đó, mà lời dạy của Đức Kitô luôn mang tính thuyết phục, đầy uy quyền.        Trong khi đó, làm sao giáo dân có thể nghe chúng ta, tin chúng ta, trong khi trên toà giảng chúng ta quát tháo ầm ĩ phải cầu nguyện, phải lần chuổi, phải suy niệm phúc âm…trong khi họ lần chuổi th́ chúng ta xem truyền h́nh, họ đọc kinh th́ chúng ta tán gẫu, và không bao giờ chúng ta “rờ” đến tràng hạt mân côi...Cũng chính trong nổi thao thức muốn cho các linh mục trong giáo phận ḿnh quan tâm đến đời sống cầu nguyện mà Thánh Charles Borromée đă có những lời dạy cụ thể, sống động mà ĐGH G.P.II đă trích lại trong tông huấn Pastores dabo vobis : “Các Cha thân mến,  các cha hăy hiểu rằng không có ǵ cần thiết hơn cho chúng ta bằng việc suy niệm là việc phải đi trước, phải đồng hành và phải theo đuổi tất cả mọi hoạt động của chúng ta, như lời của ngôn sứ : tôi sẽ ca hát và tôi sẽ suy niệm (x. Tv 100,1). Hỡi cha, nếu cha ban phát các bí tích, cha hăy suy niệm điều cha làm. Nếu cha cử hành thánh lễ, cha hăy suy niệm điều cha dâng tiến. Nếu cha đồng thanh xướng hát ca vịnh, cha hăy suy niệm xem ḿnh đang nói với ai và nói điều ǵ. Nếu cha hướng dẫn các linh hồn, cha hăy suy niệm về máu đă thanh tẩy họ. Và ước chi mọi việc được thực hành giữa anh em với nhau trong đức ái (1 Cr 16,14). Như thế, chúng ta sẽ có thể thắng vượt những khó khăn mà chúng ta gặp mỗi ngày, và những khó khăn th́ không phải ít. Hơn nữa, đó chính là điều mà trách vụ được ủy thác cho chúng ta đ̣i buộc. Nếu chúng ta xử sự như vậy, chúng ta sẽ có đủ sức mạnh để sinh hạ Đức Kitô nơi chúng ta và nơi người khác” (Sđd số 72).

Kết luận : Xin Mẹ dạy con cầu nguyện

          Con muốn kết thúc những chia sẻ nầy bằng một lời kinh đẹp của một thiếu nữ  Hoa Kỳ ở New York : Cô Mary Dixon Thayer. Lời kinh mang tựa đề : Xin Mẹ dạy con cầu nguyện :

          Lạy Mẹ Tuyệt Mĩ

          Xin dạy con cầu nguyện !

Con trai nhỏ của Mẹ

Là Thiên Chúa :

Xin Mẹ dạy con phải nói ǵ với Người !

Đôi khi Mẹ lại chẳng êm vui

Bế Người trên gối Mẹ ?

Mẹ cũng từng ru Người ngủ

Như má ru con chứ ?

Tối đến Mẹ có cầm tay Người ?:

Mẹ có luôn t́m cách

Kể chuyện cho Người nghe ?

Và Người có khóc không ?

Mẹ có nghĩ Người bằng ḷng

Nếu con thỏ thẻ chuyện nầy chuyện nọ,

Những chuyện bâng quơ xảy ra không ?

Mà nếu con nói nhỏ quá

Người có nghe thấy không ?

Lúc nầy đây Người có hiểu con nói ǵ ?

Mẹ biết rồi, nối cho con biết đi !

Lạy Mẹ tuyệt mĩ mặc áo màu xanh,

Xin dạy con cầu nguyện !

Con trai nhỏ của Mẹ là Thiên Chúa

Mẹ biết phải làm thế nào rồi.

          Bài 2 : LINH MỤC, NỐI DÀI ĐỨC KITÔ

(BÀI CHIA SẺ LỄ TẠ ƠN MỪNG CHA MỚI GIOAN VƠ Đ̀NH ĐỆ)

          Dẫn nhập :

          Nữ văn sĩ người Úc, Colleen Mc Cullough đă dựa vào huyền thoại “Những con chim gai” (The thorn birds) để viết cuốn tiểu thuyết cùng tên mà sau đó người Pháp đă chọn một tiêu đề khác : Những con chim ẩn ḿnh đợi chết (Les oiseaux se cachent pour mourir). Huyền thoại “Những con chim gai” được người ta lưu truyền như thế nầy :

          Có một loài chim chỉ hót lên một lần trong cả đời nó. Tiếng hót đó ngọt ngào hơn bất cứ sinh vật nào trên trái đất nầy. Ngay khi vừa rời tổ, loài chim ấy đi t́m ngay một thứ cây có những cành đầy gai nhọn và tiếp tục bay măi, không chịu ngơi nghỉ, cho đến khi t́m được mới thôi. Sau đó nó cất tiếng hót trên những cành cây hoang dại, rồi lao thẳng vào cây gai dài nhất và nhọn nhất. Cây gai xuyên thủng qua ngực. Giữa cơn hấp hối, một tiếng hót vút cao, thánh thót hơn cả tiếng hót của sơn ca, hoạ mi. Tiếng hót tuyệt vời đánh đổi bằng cả cuộc sống. Trời đất ngừng đọng lại để lắng nghe; c̣n Thượng đế trên cao th́ mĩm cười. Bởi rằng sự tuyệt vời chỉ có được bằng niềm đau vô tận ấy...

          Kính thưa...

          Hôm nay cộng đoàn chúng ta họp mừng lễ Tạ ơn v́ hồng ân Linh mục mà Cha mới Gioan Vơ đ́nh Đệ vừa mới nhận lănh. Trong một  ư nghĩa nào đó, chúng ta cũng có thể nói được rằng Cha Mới đă đến với chức Linh mục theo con đường của “loài chim gai”; con đường t́m kiếm không mệt mơi để cuối cùng được bước lên bàn thờ trở thành hy tế, trở thành của lễ hiến dâng cho Thiên Chúa và anh em, trở thành lời ca tuyệt vời nhất tiếp tục cất lên trong thế giới nầy, trong Hội Thánh nầy để tôn vinh Thiên Chúa và cứu rỗi anh em.

          Nói như thế không biết chúng ta có đề cao quá mức thiên chức linh mục, cuộc đời linh mục, ơn gọi linh mục hay không ? Để trả lời, chúng ta hăy dừng lại một chút để suy nghĩ về huyền nhiệm nầy.

1. Linh mục, một sự cần thiết tuyệt đối trong nhiệm cục cứu rỗi :

          Để diễn tả điều nầy, ĐGH G.P II đă có những lời đầy xác tín trong tông huấn “Pastores dabo vobis” :

          “ Một cách đặc biệt, nếu không có linh mục, Giáo Hội sẽ không thể nào thực thi được sự vâng phục cơ bản vốn nằm ngay giữa ḷng cuộc sống và sứ mệnh của Giáo Hội trong lịch sử, sự vâng phục đối với lệnh truyền của Chúa Giê-su : “Các con hăy ra đi, hăy chiêu tập môn đệ từ khắp muôn dân” (Mt 28, 19) và “hăy làm việc nầy mà nhớ đến Ta” (Lc 22, 19). Lệnh truyền ấy có nghĩa là lệnh truyền loan báo Tin mừng và hằng ngày cử hành hy lễ Ḿnh và Máu Người đă trao hiến và đỗ ra cho nhân loại được sống”.

          Trong sinh hoạt mục vụ nói chung của Giáo Hội, có một điều dễ nhận ra đó là : nơi nào thiếu vắng linh mục, nơi đó bị thiệt tḥi rất nhiều và không thể phát triển một cách sinh động, phong phú, nếu không nói là sẽ có nguy cơ suy thoái, biến chất. Bởi v́, trong nhịp sống đức tin của Dân Chúa, có những cử hành, những sinh hoạt mà ngoài linh mục không ai có thể đảm nhận được. Cũng chính v́ sự cần thiết nầy mà ĐGM giáo phận chúng ta, trong lời khai mạc thánh lễ truyền chức cho Cha G. Vơ đ́nh Đệ, đă khuyến dụ công đồng dân Chúa trong giáo phận rằng :

          “Giáo phận chúng ta chắt chiu từng ơn gọi linh mục...Cũng chính v́ sự trân trọng nầy mà chỉ trong hai tuần, giáo phận đă tổ chức hai lần lễ phong chức linh mục...Chức linh mục chính là một hồng ân cao cả Chúa đă thương ban.  Chúng ta hết ḷng tri ân cảm tạ”

          Nếu phân tích thêm đâu là những lư do về sự cần thiết của thiên chức linh mục, chúng ta sẽ gặp thấy nhiều câu trả lời hàm chứa trong những định nghĩa :

Linh mục là người của Thiên Chúa.

Linh mục là người “nối dài Chúa Kitô.

Linh mục là trung gian giữa Thiên chúa và loài người.

Linh mục là một Ki-tô khác (Alter Christus)

Linh mục người tôi tớ phục vụ.

2. Linh mục người nối dài Chúa Ki-tô :

          Trong những câu định nghĩa đó,  có lẽ định nghĩa của ĐGH G.P. II trong  tông huấn “Pastores dabo vobis” : “linh mục, người nối dài Đức Ki-tô” sẽ cho chúng ta thấy rơ căn tính của người linh mục : “Như vậy, các linh mục được mời gọi nối dài sự hiện diện của Đức Ki-tô, vị Mục tử duy nhất và tối cao, bằng cách noi theo lối sống của Ngài và bằng cách làm sao cho ḿnh như thể được Ngài xuyên thấu ngay giữa đàn chiên được giao phó cho ḿnh. …Do sự kiện linh mục thông phần vào việc “xức dầu” và vào “sứ vụ” của Đức Ki-tô, linh mục có khả năng nối dài kinh nguyện, lời nói, hy lễ và hoạt động của Ngài trong Giáo Hội” (Pastores dabo vobis 15)

          Cũng trong chiều kích đó, nhưng để làm bật nổi hồng ân cao cả của chức linh mục và sự đáp trả thế nào cho xứng với ơn trọng nầy nầy nơi các thừa tác viên thánh chức,  Thánh Grê-gô-ri-ô thành Na-di-a-nô khi c̣n là một linh mục trẻ đă kêu lên :

          “...Tôi biết chúng ta là thừa tác viên của ai, chúng ta ở địa vị nào, chúng ta hướng về ai. Tôi biết Thiên Chúa cao cả và con người yếu đuối, và biết cả sức lực của con người. Vậy linh mục là ai ? Là người bảo vệ chân lư, được đứng chung với các thiên thần, cùng ca hát với tổng lănh thiên thần, mang lễ vật lên bàn thờ thiên quốc, chia sẻ chức tư tế với Đức Ki-tô, canh tân vạn vật, phục hồi h́nh ảnh Thiên Chúa trong vũ trụ, tái tạo thế giới cho trời mới đất mới; nói cho cùng, ngài được thần hoá và thần hoá kẻ khác”(Sách GL GH 1589).

3. Hai chiều kích căn bản của đời linh mục :

          - Đối diện với Thiên Chúa – Liên đới với anh em

          Trong truyền thống Thánh Kinh, chúng ta dễ dàng t́m thấy hai chiều kích nầy qua hai nhân vật trung tâm : Mô-sê, nhân vật trung tâm của cựu ước, đă thể hiện vai tṛ “Người của Thiên Chúa” qua hai chiều kích trên như một chứng từ đầy bi kịch và thách đố : Cô độc với Thiên Chúa, Mô-sê đă đối diện, đă gặp gỡ, đă chuyện tṛ thân mật, đă lănh nhận thánh ư, đă chuyển cầu cho dân trong hoang mạc, trên núi Si-nai, trong truớng tao phùng…và ngay khi chết, “Ông đă chết trên miệng của Gia-vê trong xứ Moab” (Đnl 34,5) . Nhưng Mô-sê luôn là người của dân, luôn đứng về phía dân, can thiệp cho dân, và sau cùng đă chết ngoài hứa địa cùng với thế hệ dân mà ông đă dẫn đưa về từ Ai cập.       

          Nguyện vọng và lời thách đố của Mô-sê bắt gặp lời đáp trả xuất phát từ một con người trong số đoàn dân của ông : Giê-su Na-da-rét, Người mà lịch sử dân chúa sẽ xưng tụng là Đấng Ki-tô, Người mà tác giả thư Do Thái quả quyết : “Trong mọi sự, Ngài đă trở nên giống anh em ḿnh, để trở thành vị Thượng tế lo việc Thiên Chúa, vừa biết xót thương vừa trung tín, cốt để lo tạ tội cho dân” (Dt 2, 17). Chính Người đă đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa để trở nên vị Thượng Tế cô độc với Thiên Chúa, đứng về phía Thiên Chúa, đồng thời, Người cũng đă thể hiện một cách trọn vẹn sự liên đới với mọi người qua hành động tự nguyện dâng hiến con người của ḿnh làm lễ tế để kéo t́nh thương tha thứ cho Dân Chúa.

          Để sống trọn vẹn hai chiều kích đó, cuộc đời linh mục là một cuộc hành tŕnh đầy nhiêu khê, gian khó mà ngày bước lên Bàn Thánh, ngày chịu chức mới chỉ là một khởi đầu.

          Chính trong cuộc khởi đầu của Cha Mới  hôm nay, trong thánh lễ tạ ơn đặc biệt nầy, con xin phép (quí... ) được chia sẻ riêng với “Người Em trong chức linh mục “ một đôi lời.

          Đệ rất thân mến, em và anh đă có cả một chiều dài kỷ niệm : hơn 27 năm : một năm ở tiểu chủng viện và 26 năm ở vùng đất Mằng Lăng Phú Yên nầy. Anh có thể tóm lại những kỷ niệm đó bằng lời của một bài ca của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn : Có một bài ca không bao giờ quên. Đó là bài ca của những tháng ngày vất vả, những gánh lúa nặng trên vai, những vết chân rướm máu v́ đỉa cắn, những bữa cơm bằng cháo trắng với rau ngỗ nhỗ ngoài sông, những bước chân lặng lẽ giữa khuya đi bộ từ Đồng Cháy về Mằng lăng hay lội ruộng bắt ếch bên Hội Phú... Vâng đó là bài ca mà chúng ḿnh đă hát “với quê hương, với bạn bè, với đồng đội, với cả ḷng ḿnh”...Bài ca đó chúng ta không thể nào quên.

           Nh́n lại tiến tŕnh theo đuổi ơn gọi của em, của Bản và của anh, phần nào anh thấy lại h́nh ảnh cuộc hành tŕnh của hai anh em ḿnh trên chiếc sơng tôn, giữa mùa nước lụt,  ngược sông Đồng Cháy, qua bến Chợ Mai, đập Hà Yến và về Mằng Lăng bằng một cây đ̣n gánh và một chiếc dầm. Lần đó chúng ta suưt lật sơng gần cầu Ḷ Gốm. Ngược ḍng sông giữa mùa nước lụt quả thật là gian nan vất vả. Thế nhưng rồi cũng tới đích bằng an. Trong tiến tŕnh bước lên bàn thánh của chúng ta cũng là một cuộc “bơi ngược ḍng”, nhiều lúc tưởng rằng đă hụt hơi, đuối sức. Nhưng Thiên Chúa vẫn có cách của Ngài. Hôm nay chúng ta chỉ biết hân hoan cảm tạ.

          Trong bước đầu linh mục của em, anh xin có mấy điều nhắn gởi rút ra từ 4 trích đoạn Lời Chúa, như một chút kinh nghiệm nghèo nàn, nhỏ bé của người anh đi trước :

1 Tm 4, 12-16 : “Đừng để ai khinh thường tuổi trẻ của em...”

Anh muốn nhắc lại chính lời của Thánh Phaolô nhắn gởi người đệ tử Timôthê để nói với em rằng : Xă hội mà em sẽ dấn thân phục vụ hôm nay rất phức tạp, tiến bộ và cũng lắm cạm bẩy. V́ thế hăy tỉnh táo, và không ngừng đào luyện bản thân. Chủ quan và lười biếng sẽ khiến chúng ta tụt hậu và dễ có nguy cơ biến chất thành thứ “muối nhạt”.

2 Tm 1, 6-9 : “Em phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa...”

Sống thiên chức linh mục cũng giống như bao ơn gọi khác. Thời gian sẽ làm phai nhạt dần “t́nh yêu thuở ban đầu” (Kh 2,4). Sự sốt sắng, trân trọng, trung thành, nghiêm túc... sẽ dễ nhường chỗ lần lần cho thái độ coi thường, sơ sài, thiếu chuẩn bị và thiếu cả thái độ nội tâm, đức tin cần thiết cho các tác vụ thánh. Sự thánh hiến của chức linh mục chỉ đạt được hiệu quả trọn vẹn khi được sống từng ngày trong cố gắng và trung thành.

Lc  10, 38-42 : “Em luôn biết chọn phần tốt nhất”

Nhiều khi, do quá bận bịu và phân mảnh cuộc sống, chúng ta không c̣n đủ can đảm và sáng suốt để chọn lựa các ưu tiên trong bậc thang cuộc sống đời linh mục. Để biện minh cho các “dịch vụ mục vụ” bên ngoài, chúng ta có khuynh hướng giảm thiểu đời sống nội tâm, cầu nguyện, việc chuẩn bị cho cộng đoàn tham dự phụng vụ, việc trau dồi bàn tiệc Lời Chúa, giáo lư...Điều cần thiết nhất mà người linh mục chúng ta cần chọn lựa đi chọn lựa lại mỗi ngày phải chăng đó là chiêm ngắm Đức Ki-tô. Đức Ki-tô trong Lời Chúa, trong Thánh Thể, trong các nhiệm tích, trong việc dạy giáo lư...Đức Ki-tô trong anh em linh mục, trong giới trẻ, trong thiếu nhi, trong những người nghèo khổ, bệnh tật...

Ga 13, 13-15 : “ Em hăy sẵn sàng phục vụ anh em”

“Đức ái mục vụ” chính là căn tính của linh mục. Chúng ta không phải là một công chức để t́m cho ḿnh một cuộc sống thanh nhàn, thoải mái và hạnh phúc theo nghĩa trần tục. Phương tiện, kỷ năng, sức khoẻ, thời giờ, tiền bạc...là để cho mọi người, cho giáo dân, cho anh em linh mục, cho việc mục vụ...Chúng ta sống cái nghèo của Tin mừng có nghĩa là biết không ngừng tự bóc lột ḿnh để làm giàu cho người khác, cho cộng đoàn, cho Giáo Hội.

Và để chia sẻ với em trong ngày đại hồng ân nầy, anh xin mượn lời của Linh mục thần học gia Karlrhaner để gởi về em như một lời chúc và ước nguyện : “Hôm nay con dâng Thánh Lễ Tạ ơn, Thánh lễ khởi đầu mùa hiến tế thần linh, để rồi mỗi ngày suốt đời con sẽ dâng hy tế t́nh yêu cho đến khi cuộc đời linh mục hoàn toàn được nghiền nát đi thành hiến tế vĩnh cửu”.

          Kính thưa cộng đoàn, đặc biệt cộng đoàn dân Chúa giáo xứ Mằng Lăng, trong Thánh Lễ tạ ơn hôm nay, chắc chắn Cha Mới sẽ nhớ và cầu nguyện cho anh chị em nhiều nhất. Bởi v́, trong suốt 26 năm trường, anh chị em đă nâng đỡ, đùm bọc, động viên và hy sinh, cầu nguyện và ước mơ để có ngày hôm nay, để Thầy Đệ trở thành “ồng cố Đệ”, để một người con, người cháu, người anh, người em, người bạn đă từng đồng hành vời anh chị em trên từng cây số cuộc sống hôm nay trở thành linh mục đời đời của Chúa. Tôi chỉ ước mong rằng, những ǵ anh chị em đă làm để góp phần xây dựng ơn gọi linh mục, anh chị em hăy tiếp tục nhiều hơn nữa để sau lễ tạ ơn hôm nay sẽ lại có nhiều lễ tạ ơn linh mục được tiếp diễn trên bàn thờ nầy, giữa cộng đoàn nầy. Đó cũng chính là ư nguyện chúng ta cùng dâng lên Chúa trong thánh lễ tạ ơn nầy cùng với lời cầu xin Thánh Linh đỗ tràn trên Cha mới dạt dào hồng ân để người có đủ nghị lực và t́nh yêu bắt đầu cuộc hành tŕnh linh mục đầy khó khăn và thử thách.

          Sau hết, xin được mượn lời nguyện của ĐGH G.P.II trong lời kết của tông huấn “Pastores dabo vobis” để chúng ta cùng dâng lên Mẹ Maria tâm t́nh và ước nguyện của chúng ta trong giây phút than thương nầy :

Lạy Đức Maria,

Là Mẹ của Đức Giê-su Kitô và là Mẹ của các linh mục...

Mẹ đă ở với Chúa Giê-su vào lúc khởi đầu cuộc sống

sứ vụ của Ngài,

Mẹ đă t́m kiếm Ngài, khi Ngài đang làm Thầy giữa đám đông,

Mẹ đă đứng kề bên Ngài, khi Ngài được nâng lên khỏi mặt đất,

hoàn tất mọi sự để trở nên hy lễ duy nhất vĩnh cửu,

Xin hăy đón nhận những kẻ dược Chúa mời gọi,

Khi họ cất những bước đầu tiên trên nẽo đường của họ,

Xin hăy che chở cho sự tăng triển của họ

Xin hăy sát cánh với những người làm con Mẹ

Trong dời sống và trong thừa tác vụ,

Lạy Mẹ là Mẹ các linh mục ! Amen.

BÀI 3 : LINH MỤC, QUÀ TẶNG T̀NH YÊU

_______________ 

(BÀI CHIA SẺ TRONG THÁNH LỄ CẦU CHO

CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC GIÁO PHẬN ĐĂ QUA ĐỜI

DỊP TĨNH TÂM NĂM 2002

21.03.2002)

Dẫn nhập : Trọng kính,...

          Trong một ư nghĩa giới hạn nào đó, chúng ta có thể nói được rằng : đời sống đức tin của Dân Chúa là “sống hoài niệm”, là không ngừng tái hiện các kỷ niệm : các kỷ niệm về công tŕnh cứu độ của Thiên Chúa, các kỷ niệm về hành vi cứu độ của Đức Ki-tô...

          Bằng chứng là chính trong giờ cử hành Hy lễ Tạ ơn nầy, chúng ta dành để cầu nguyện và tưởng nhớ các Vị Chủ Chăn, các Giám Mục, Linh mục trong Giáo Phận đă an nghỉ. Chính trong giây phút thiêng liêng nầy, con thấy hiện về trong kư ức bao kỷ niệm thân thương của bao cuộc đời, bao gương mặt, bao chứng từ sống động của các vị Tiên Nhân đă góp phần xây đắp Ngôi Nhà Giáo Phận :

- Nào cḥm râu nhân từ của ĐC Dominicô,

- Nào mái tóc bạc của ĐC Phaolô,

- Nào gương mặt, nụ cười hiền lành, dễ mến của cha già Tiên, cha già Hiến...

- Nào vẻ chân chất, bộc trực của cha già Quảng, cha già Long,

- Nụ cười bao dung, thanh thản của cha Tám Ân,...

- Thêm vào đó, cái nét nghịch ngợm, tươi vui rất b́nh dân, rất huynh đệ của cha Bích bên cạnh cái vẻ hào hoa lịch sự phong nhả của cha Nh́, khắc khổ, cứng cáp b́nh dị nông dân của cha Tri, hay văn chương đài các đầy vẽ quư phái phong lưu của Cha F.X Văn...

          Nếu hôm nay chúng ta dâng lễ để cầu nguyện cho Quí Ngài, th́ đồng thời, cũng rất cần thiết để chúng ta t́m về với các Ngài như một cuộc hành hương đến với một “kho tàng” quí giá  cất giữ bao kinh nghiệm tuyệt vời về tu đức, về mục vụ, về cung cách ứng xử trong đời linh mục... Riêng con, khi hồi tưởng đến các Ngài và khi suy nghĩ về đời sống của hàng linh mục Qui Nhơn, con có một cảm nhận thật rơ nét trong ḷng, đó là : Hàng giáo sĩ giáo phận Qui Nhơn có 3 đặc điểm :

Hiền lành, khiêm hạ.

Đơn giản, khó nghèo.

Đậm đà t́nh huynh đệ.

Đây phải chăng là ba giá trị tuyệt vời mà mọi thế hệ linh mục chúng ta cần bảo tồn, phát triễn. Bởi v́ nói cho cùng, 3 giá trị ấy phát xuất từ một điểm chung, như Đức Cha Tôma đă triển khai và nhấn mạnh trong bài giảng sáng hôm qua : Biết nhận và cho. Đó cũng là chủ đề của ĐGH G.P II trong “Sứ điệp Mùa Chay 2002” gởi cho toàn thể Dân Chúa : Đức Thánh Cha đă nhắn gởi chúng ta bằng những lời tha thiết :“Anh em đă được cho nhưng không, th́ cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8). Uớc ǵ nững lời nầy vang vọng trong ḷng mọi ki-tô hữu đang hành hương và thống hối tiến về lễ Phục Sinh.”

Để cho nhưng không phải biến ḿnh thành quà tặng.

Điều khẳng định trên đây chỉ là một cách cắt nghĩa sứ điệp của Tin Mừng, đặc biệt trích đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan vừa được công bố hôm nay : Cô Maria đập bể b́nh dầu thơm quí giá để xức chân Chúa Giê-su. Quả thật Maria đă có một nghĩa cử “ban tặng” tuyệt vời mà dưới con mắt của những tâm hồn ích kỷ, chỉ biết nhận mà không bao giờ biết cho như  Giu-đa Ít-ca-ri-ô sẽ là một lăng phí.

Cách ứng xử của Giu-đa ngày nào cũng có thể được lặp lại nơi chúng ta, các linh mục của Chúa, nếu chúng ta không thật sự tỉnh táo và thường xuyên điều chỉnh cuộc sống theo định hướng của Phúc âm, trong mái trường của Máng cỏ, Thập Giá. Thật vậy, biết đâu được, tới một lúc nào đó, do bao nhiêu tác dụng tiêu cực của cuộc sống, sự bận bịu mục vụ mỗi ngày, sức khoẻ suy giảm, tuổi gà kéo đến, những thất bại và phức tạp trong quan hệ với giáo dân... sẽ dần dần làm cho chúng ta không c̣n đủ can đảm và nhiệt t́nh sống chức linh mục như một “hồng ân tuyệt vời để cần được không ngừng ban tặng”, mà chỉ là một “sở hữu để hưởng thụ ích kỷ”, biến ḿnh thành một Giu-đa, nhân danh đủ mọi lư do mục vụ, để giảm thiểu ḷng yêu mến Chúa Ki-tô và các linh hồn. Đây không phải chỉ là một lư luận hay cường điệu một ư tưởng tiêu cực  chỉ có trong lư thuyết mà là một thực tế xă hội của nhịp sống hôm nay, một cuộc sống đề cao sự hưởng thụ, phương tiện, chủ nghĩa cá nhân, sự giàu có...Quả thật, quí hiếm biết bao trong cái chợ đời hổn tạp hôm nay t́m được những con người dám “đập bể b́nh dầu thơm để xức chân Chúa, để làm rực lên mùi thơm trong ngôi nhà Giáo Hội. ĐGH Gioan-Phưolô II đă chú giải “sự kiện Tin Mừng” nầy bằng những lời thâm thuư trong Tông huấn Đời Thánh Hiến như sau :

...Dầu thơm quí giá được đổ ra như một tác động hoàn toàn v́ t́nh yêu, và như thế vượt ra ngoài mọi tính toán “vụ lợi”, là dấu chỉ của một sự nhưng không tràn đầy biểu lộ qua một đời sống được tiêu hao đi để yêu mến và phục vụ Chúa, để hiến thân cho Người và cho Nhiệm Thể Người. Đời sống “được đổ tràn ra” không tính toán đó lan toả hương thơm khắp cả nhà. Cũng như xưa, Ngôi nhà của Thiên Chúa là Giáo Hội được trang điểm và nên giàu có nhờ sự hiện diện của đời thánh hiến. Đối với con người bị vẽ đẹp và sự tốt lành của Chúa chinh phục từ thâm tâm, th́ điều có thể xem là một lăng phí trước mắt loài người, lại là một lời đáp rơ ràng của t́nh yêu...”

Để trở thành quà tặng, hăy trở nên khó nghèo.

Điều xem ra mâu thuẩn trên lại là định luật của Chúa Giê-su, của Tin Mừng. Bởi v́, chính Đức Ki-tô là Người đă trao ban nhiều nhất, đă cho nhiều nhất, đă trở nên Quà Tặng vĩ đại nhất khi Ngài trở nên “Kẻ nghèo nhất”, khi Ngài “Tự hạ” trọn vẹn. ĐGH G.P. II đă khẳng định chân lư trên trong Tông huấn Pastores Dabo vobis :

“Trên Thập giá, Đức Giê-su Ki-tô mang Đức ái mục vụ của Ngài đến mức trọn hảo trong một sự trần trụi tột cùng bên ngoài và bên trong. Ngài là mẫu mực và là nguồn mạch các nhân đức vâng phục, khiết tịnh và nghèo khó mà linh mục được mời gọi sống như là biểu hiện t́nh yêu mục vụ của ḿnh đối với anh em. Theo như những điều Phaolô viết cho các tín hữu Philipphê, linh mục phải có cùng những tâm t́nh như  Đức Giê-su, phải tự tước bỏ khỏi cái tôi riêng rẻ của ḿnh, để trong đức ái vâng phục, khiết tịnh và nghèo khó, t́m gặp được con đường vương giả đưa tới sự nối kết với Thiên Chúa và tới sự hiệp nhất với anh em.”

Có một nhân vật trong Cựu ước mà con rất thích để minh hoạ cho tư tưởng nầy đó là Đa-Vít : Đa-vít ra chiến đấu với Go-li-át bằng cách cởi bỏ bộ áo giáp nặng nề và trang bị cho ḿnh chỉ với vài viên đá cuội và chiếc ná nhỏ...Bởi v́ như Đa-vít khẳng định “Ta đến với ngươi nhân Danh Gia-vê”

Trong cuộc chiến với sự ác, sự dữ, rong cuộc chiến cho nền văn minh t́nh yêu và sự sống, linh mục phải ra trận theo cung cách của Đa-vít, theo “Lệnh lên đường” của Đức Ki-tô : “Các ngươi đừng mặc hai áo, đừng mang bị tiền...” Và nói một cách dí dỏm như ĐC Tôma : “Bỏ lại hai cái gối ôm...”,hay thi vị hơn như  bài thơ của Graham Kings :

Lạy Chúa,

Khi đến với Chúa,

Con tháo bỏ đôi giày : những tham vọng của con.

Con cởi bỏ đồng hồ : Thời khoá biểu của con.

Con đóng lại bút viết : các quan điểm của con.

Con bỏ xuống ch́a khoá : Sự an toàn của con.

Để con được ở một ḿnh với Ngài.

Lạy Thiên Chúa duy nhất và chân thật.

Sau khi được ở với Ngài,

Con sẽ xỏ giày vào

Để đi theo đường của Chúa.

Con sẽ đeo đồng hồ

Để sống trong thời gian của Chúa.

Con sẽ đeo kính vào,

Để nh́n thế giới của Chúa.

Con sẽ mở bút ra,

Để viết những tư tưởng của Chúa.

Con sẽ cầm ch́a khoá lên,

Để mở những cánh cửa của Chúa

Kết luận :.

Hôm nay, ngày Thứ Năm. Trong chính ngày nầy cách đây 2000 năm, Chúa Kitô đă lập Bí tích Thánh Thể và Chức Linh Mục. Chính giờ phút nầy, chúng ta đang “tưởng-niệm-tái-diễn” hành vi cứu độ đặc biệt nầy của Đức Ki-tô, một hành vi mà chúng ta, các linh mục, được kư thác để hiện thực hoá trong trần gian “sự ban tặng tuyệt vời” nhất, cao cả nhất của Đức Ki-tô : Sự chết và sống lại của Ngài, tấm bánh, ly rượu là Ḿnh Máu Ngài để Thiên Chúa không ngừng được tôn vinh và nhân loại t́m được nguồn ơn cứu độ.

Chính trong tâm t́nh tri ân cảm tạ, hiệp nhất, yêu thương, chúng ta cùng tiến dâng Thánh lễ.

          BÀI 4 : LINH MỤC, MÙA XUÂN VÀ HY TẾ

________________ 

THÁNH LỄ TẠ ƠN GIÁP MỘT NĂM LINH MỤC

25.04.2002 – 25.04.2003

(Của các linh mục :Anr. Điểm, Tom. Binh, Aug. Phú, Phr. Hoà, Phx.Triều)

Dẫn nhập : Kính thưa,...

Ở giữa Tuần Bát Nhật Phục Sinh, khi niềm vui rạng rỡ của cộng đoàn Dân Thánh c̣n ghi đậm trong khắp mọi Thánh đường, trên khắp các bàn thờ , khi tiếng hát vui mừng Alleluia c̣n vang vọng trong muôn vạn cơi ḷng Kitô hữu, chúng ta lại được dịp nhân lớn nôỉ vui nầy cùng với Năm Anh em Linh mục chào mừng kỷ niệm “đệ nhất niên” cuộc đời linh mục, tạ ơn một năm bước lên bàn thánh : 25.04.2002 – 25.04.2003. Quả thật đúng như lời của ĐGM Giuse Vũ Duy Thống : “Niềm vui góp lại, niềm vui lớn”. Và trong chính niềm vui lớn tạ ơn hồng ân linh mục ở giữa Mùa Phục Sinh hoan hỷ nầy, đă làm tôi nhớ lại mấy câu thơ của linh mục Nguyễn Mạnh Tăng, trong một bài giảng tạ ơn linh mục cách đây 14 năm :

Ôi linh mục, Mùa Xuân Thánh lễ,

Mùa xuân muôn đời, muôn thế hệ say mơ,

Mùa xuân tinh tuyền không chút bợn nhơ,

Ôi Mùa xuân nở bông hoa t́nh ái...

Ở giữa khung cảnh đầy tràn niềm vui nầy, quả thật chúng ta thấy tất cả đều là “mùa xuân”. Phục sinh đó chính là Mùa Xuân đại nhất, hồng ân linh mục chính là mùa xuân tuyệt vời nhất... Tuy nhiên, qua toàn bộ cuộc Cử hành Tam Nhật Vượt Qua vừa rố, nhất là qua các bài đọc Lời Chúa hôm nay, chúng ta lại có dịp để tỉnh táo mà nhận ra rằng : Trước khi có Mùa Xuân Phục Sinh, Đức Kit-tô đă trăi qua Mùa Đông Khổ Nạn, và cũng vậy, để sống Mùa xuân Linh mục trọn vẹn, phải đón nhận mùa đông của cuộc đời linh mục hy tế. Thật vậy, nếu Thập Giá – Phục sinh là một cặp biện chứng không thể tách ĺa trong Mầu nhiệm Vượt Qua, th́ chúng ta cũng có thể nói được : Mùa xuân – Hy tế là hai chiều kích, hai mặt không thể tách ĺa của huyền nhiệm linh mục. Chúng ta thử cùng nhau dừng lại để suy nghĩ một thoáng ư nghĩa nầy, cũng là để cảm thông và chia sẻ, tạ ơn và nguyện cầu cho 5 người anh em linh mục của chúng ta hôm nay long trọng kỷ niệm một năm sống cuộc đời linh mục.

1. Để linh mục sống măi “Mùa xuân” :

          Khi nói “đời linh mục là một mùa xuân”, chắc chắn mọi người chúng ta đều có chung cảm nhận rằng : đó là một cuộc đời trong sáng, rạng rỡ t́nh yêu Thiên Chúa và t́nh yêu con người, một cuộc sống thanh thoát không nhuốm màu ô trọc bon chen, một cuộc đời luôn được yêu thương, trân trọng và đón nhận. Điều nầy có lẽ được gói ghém phần nào trong những bài thánh ca về chức linh mục như : “Từ ngàn xưa Cha đă yêu con...”, “An t́nh thánh tuyệt vời”... mà chúng ta vẫn thường nghe trong các thánh lễ về linh mục. Về khẳng định nầy, chúng ta chỉ biết nhất trí chứ không cần bàn căi ǵ nữa. Tuy nhiên, điều quan trọng là làm sao sống trọn vẹn chiều kích “mùa xuân” của đời linh mục, làm sao trong mọi biến cố, mọi nẽo đường, các linh mục luôn mĩm cười “t́m thấy mùa xuân” bất tận trong thiên chức, trong phục vụ, trong yêu thương... Xin được đề nghị 3 giải pháp nầy, đúng hơn, 3 hướng dẫn của truyền thống Tin Mừng và truyền thống Giáo Hội :

Linh mục gắn liền với Đức Ki-tô.

Linh mục hiệp thông với Mẹ Hội Thánh.

Linh mục liên đới với cộng đoàn tín hữu chung quanh.

Linh mục gắn liền với Đức Ki-tô : “Thầy là cây nho, các con là cành...” (Ga 15,5). Bao lâu, cuộc sống linh mục c̣n liên kết, c̣n gắn liền với Đức Ki-tô, bấy lâu cuộc sống là “một mùa xuân, một tiệc cưới bất tận”, như chính Đức Ki-tô đă khẳng quyết : “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại ăn chay, khi chàng rễ c̣n ở với họ.” (Mc 2, 18-20). ĐGH G.P.II đă thuyết minh nguyên tắc nền tảng nầy trong Tông huấn Pastores dabo vobis : “Như vậy, các linh mục được mời gọi nối dài sự hiện diện của Đức Ki-tô, Vị Mục Tử duy nhất và tối cao, bằng cách noi theo lối sống của Ngài và bằng cách làm sao cho ḿnh như thể được Ngài xuyên thấu ngay giữa đàn chiên được giao phó cho ḿnh...” (Số 15). Và chúng ta cũng có thể nói ngược lại rằng : một linh mục mà không liên kết với Đức Ki-tô, không để Ngài xuyên thấu, là đă đánh mất căn tính linh mục của ḿnh, đă đánh mất “Mùa xuân linh mục” và cuộc sống linh mục chỉ là một kéo dài mùa đông ảm đạm, như một lời hát ví von : “V́ tôi là linh mục, không mặc chiếc áo ḍng nên suốt đời hiu quạnh, nên suốt đời lang thang... Người t́nh bỏ tôi đi, thiêu huỷ ḷng tin suy, người t́nh bỏ tôi đi, giáo đường buồn lê thê...”. Nhưng liên kết với Đức Ki-tô bằng cách nào, với những phương thế nào ? Xin nhường câu trả lời nầy cho các anh em linh mục.

Linh mục hiệp thông với Hội Thánh. Trong số 16 của Tông huấn Pastores dabo vobis, ĐGH G.P.II đă cắt nghĩa rằng : quan hệ giữa linh mục (Thừa tác) và Giáo Hội là một quan hệ vừa hàm chứa trong chính hữu thể do bí tích Truyền Chức Thánh vừa hàm chứa trong chính sứ vụ, trong thừa tác vụ của linh mục. Nói cách khác, linh mục chỉ có thể giữ được căn tính và thăng tiến ơn gọi của ḿnh khi sống hiệp thông với Giáo Hội ; và cũng chính ở giữa ḷng Giáo Hội mà linh mục t́m được “Mùa xuân”, t́m được điểm tựa, t́m được sức mạnh đỡ nâng cuộc sống...Bởi v́, khi Giu-đa từ giă Bàn Tiệc của anh em để ra đi, “lập tức bóng tối dâng lên”, trong khi cho dù vất vả thâu đêm, trên chiếc thuyền của Phê-rô có đông đủ anh em cùng buông lưới, các Tông Đồ đă gặp được Đấng Phục Sinh đứng đợi trên bờ với bữa điểm tâm dạt dào t́nh mến.

Linh mục liên đới với cộng đoàn tín hữu chung quanh.

Về điều nầy, chúng ta hăy lắng nghe những chỉ dẫn vừa sâu sắc vừa tế nhị của Công đồng, đă hơn 40 năm vẫn c̣n mới mẻ :

“Thật vậy, cùng với tất cả những ai được tái sinh trong suối nước rửa tội, các linh mục là những anh em giữa các anh em ḿnh, là chi thể của cùng một Thân Thể duy nhất của Chúa Ki-tô mà mọi người có nhiệm vụ xây dựng.

Như vậy các linh mục phải lănh đạo làm sao để không t́m tư lợi, nhưng t́m lợi ích cho Chúa Giê-su Kitô ; các Ngài hợp tác với giáo dân và cùng với họ, xử sự theo gương Thầy, Đấng đến ở giữa mọi người “không để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống ḿnh thay cho nhiều người” (Mt 20,28) (SL về Chức Vụ và Đời sống linh mục số 9).

Và để minh hoạ thêm cho ư tưởng nầy, xin được đọc lên mấy vần thơ cuối của bài thơ “Trên cánh đồng Hợp tác” trong tập thơ Người Chăn Chiên Vô H́nh của Linh mục thi sĩ Trăng Thập Tự :

Tôi cúi xuống

Thấy Ngài trước mắt

Lội suối băng đồng t́m con chiên lạc

Xin cho tôi tấm ḷng

Của kẻ có con chiên lạc mất

Xin cho tôi tấm ḷng

Của người Cha t́m đứa con đi hoang

Và là tấm ḷng

Của kẻ nh́n đám đông

Mà dạt dào thương xót

Của kẻ không đành tâm bỏ sót

Một em bé nào

Hay bất cứ một người đuôi mù què quặt...

Xin cho tôi trái tim,

Của người đă khóc

Trước sự đau khổ của kẻ khác

Xin cho tôi trái tim không biết mệt mơi

Khi thân xác đă ră rời

Ngồ bệt bên bờ giếng

Mà chưa nỡ nghỉ ngơi...

Khi suốt ngày đă hụt hơi

Suốt ngày đă khản tiếng

Rao giảng cho đám đông

Mà tối đến vẫn c̣n thức khuya

V́ phần rỗi của một người trong đám họ

Xin cho tôi trái tim đó

Trái tim yêu mấy cho vừa

Cây sậy dập đong đưa

Không đành bẻ găy...

Không nỡ tắt ngọn đèn leo lét

Trái tim yêu thương cho đến chết

Và chết rồi c̣n nở hoa.

2. Để Linh Mục sống cuộc đời Hy tế :

          Sau những ngày “Mùa xuân trăng mật” của Phục Sinh, các Tông đồ đă lên đường để dấn thân vào nẽo đường “Làm chứng” mà bóng Thánh Giá, Hy tế thấp thoáng trên mọi nẽo đường. Bài đọc CVTĐ hôm nay đă nói với chúng ta điều đó. Phêrô và Gioan bị tống giam v́ rao giảng Tin Mừng Phục Sinh ; và đoạn kết của thiên anh hùng ca nầy là cái chết “ngược đầu thập giá” trên đồi Vatican của Phêrô và bao cuộc tử đạo khác của hàng hàng lớp lớp thế hệ tông đồ, chứng nhân.

          Sống thiên chức linh mục đó chính là t́m thấy Mùa Xuân trong Hy Tế, là không ngừng đọc, suy niệm và áp dụng lời mời gọi triệt để của Đức Ki-  : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính ḿnh, vác thập giá ḿnh hằng ngày mà theo...” (Lc 9,23-24). Tông huấn Pastores dabo vobis đă nhấn mạnh khía cạnh nầy :

“Trên Thập giá, Đức Giê-su Ki-tô mang Đức ái mục vụ của Ngài đến mức trọn hảo trong một sự trần trụi tột cùng bên ngoài và bên trong. Ngài là mẫu mực và là nguồn mạch các nhân đức vâng phục, khiết tịnh và nghèo khó mà linh mục được mời gọi sống như là biểu hiện t́nh yêu mục vụ của ḿnh đối với anh em. Theo như những điều Phaolô viết cho các tín hữu Philipphê, linh mục phải có cùng những tâm t́nh như  Đức Giê-su, phải tự tước bỏ khỏi cái tôi riêng rẻ của ḿnh, để trong đức ái vâng phục, khiết tịnh và nghèo khó, t́m gặp được con đường vương giả đưa tới sự nối kết với Thiên Chúa và tới sự hiệp nhất với anh em.”

Kết luận :

          Năm anh em linh mục hôm nay mừng “nhất niên thánh chức” thân mến,

          Nếu các tông đồ ngày xưa vất vả trong một đêm mà không bắt được con cá nào, th́ với anh em, sau một năm hy vọng sẽ khấm khá hơn. Duy có một điều ngày xưa và hôm nay đều giống nhau đó là tất cả đều thấm mệt. Tuy nhiên, xin các bạn hăy yên tâm, Đức  Ki-tô Phục sinh đă chứng kiến “từ đầu chí cuối”, Ngài thấy hết, Ngài biết hết những vất vả, trăn trở, xót xa, buồn đau năn ḷng hay vui mừng hy vọng của chúng ta...Và không chỉ thấy, chỉ chứng kiến rồi thôi, mà đă dọn sẵn cho các môn sinh của Ngài, cho mỗi chúng ta “bữa điểm tâm tuyệt vời”, bữa điểm tâm đầy thân thương, tế nhị và tuyệt đối cần thiết, bữa điểm tâm cốt yếu chính là sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài. Điều mà chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau hôm nay và mỗi ngày là làm sao luôn có đôi mắt, có trái tim của Thánh Gioan để mau mắn nhận ra và xác tín rằng : “Chúa Đó”

“Chúa đó”, cũng là hai từ của một lời chúc thân thương tôi xin gởi đến các bạn trong ngày tạ ơn hôm nay và mọi ngày trong bước đường linh mục mai ngày của các bạn. Amen.

          BÀI 5 : LINH MỤC, DÁNG ĐỨNG MÔ-SÊ

_______________ 

(BÀI CHIA SẺ TRONG THÁNH LỄ TẠ ƠN MỪNG TÂN LINH MỤC

Cha Phêrô Nguyễn Minh Chính

Mằng Lăng 1997)

Dẫn nhập : Kính thưa...

          Trong một khảo luận về chức linh mục, ĐHY Kalk Rahner, một thần học gia lỗi lạc của Hội Thánh trong thế kỷ 20, đă ghi lại cảm nhận của Ngài trong Thánh lễ mở tay khi Ngài mới thụ phong linh mục bằng những ḍng thâm thuư sau : “Hôm nay con sắp được hiến dâng thánh lễ trên bàn thờ. Đây là hy lễ tuyệt diệu của Mùa Giao ước mới. Hôm nay con được cử hành Hy lễ đó. Ôi công tŕnh tuyệt hảo, tuyệt vời cao trọng. Chính trong thánh lễ nầy, con cảm thấy Chúa hiện diện ở giữa Dân Ngài, Ngài đang hành động, yêu thương, cứu chuộc và qui hướng mọi sự về vinh quang Chúa Cha. Hôm nay con dâng Thánh lễ đầu đời, con dâng chính những phút giây, những tác động của ân sủng, thể hiện trong Hy tế Thánh thể. Hôm nay con dâng hiến những phút giây của một con người. Hôm nay con dâng hánh Lễ Tạ ơn, Thánh lễ khởi đầu Mùa Hiến tế thần linh, để rồi mỗi ngày suốt đời con, sẽ dâng Hy tế t́nh yêu cho đến khi cuộc đời linh mục hoàn toàn được nghiền nát để thành hiến tế vĩnh cửu”.

          Ở giữa cộng đoàn Dân Chúa hôm nay, trong Thánh lễ nầy, chắc chắn Cha Mới Phaolô Nguyễn Minh Chính cũng đang có những cảm nhận như thế, cảm nhận về một “Mùa xuân Mới” trong trang sử của đời ḿnh, một “giao ước mới” trong t́nh yêu với Chúa Ki-tô và Hội Thánh, và một “Hy lễ mới”, Hy lễ của cuộc đời linh mục.

          Trong tâm t́nh tạ ơn Thiên Chúa, Đấng đă yêu thương gọi mời và tuyển chọn người anh em hèn mọn của chúng ta lên hàng tư tế thánh, cám ơn cộng đoàn Giáo Hội địa phương đă ưu ái cưu mang, bảo vệ, nguyện cầu và không thiếu những hy sinh thầm lặng để Giáo Hội, Giáo phận, Giáo xứ có được một ngày như hôm nay, ngày mà một kẻ với thân phận “bụi tro đă được nâng lên hàng khanh tướng”, ngày mà toàn thể cộng đồng Dân Chúa hoan hỷ mừng vui xúm xít chung quanh một người con, một người anh em như trong ngày tiệc cưới…Chính trong những tâm t́nh đầy sốt mến nầy, xin được dừng lại đôi phút để sẻ chia và lắng đọng với nhau đôi điều về Thiên chức linh mục.

          Đứng trước huyền nhiệm linh mục, cộng đoàn Dân Chúa đă có một chiều dài 2000 năm suy tư và học hỏi, sống và cảm nhận. Chúng ta làm sao có thể nói hết, nói đũ. Chỉ xin dừng lại nơi đây một “góc nhỏ” như chút hành trang khiêm hạ thêm vào “những thiết bị” cần thiết cho cuộc hành tŕnh hiến tế mà Cha Mới hôm nay đang khởi sự dấn bước.

I. LINH MỤC ; CON NGƯỜI CÔ ĐỘC VỚI THIÊN CHÚA :

          Để minh hoạ trước cho ư tưởng nầy có lẽ chúng ta nên làm một chuyến hành hương trở về với thuở hồng hoang của thời Xuất Hành cách đây mấy ngh́n năm lịch sử để dừng lại chiêm ngắm một con người mà qua bao chặng thời gian vẫn sừng sững như một tượng đài vĩ đại : Nhà Tiên tri, Vị Lănh đạo và Tư  tế  Mô-sê. Vâng, Mô-sê là Người được Thiên Chúa tuyển chọn và giao cho sứ mệnh dẫn đưa Dân Chúa về Đất Hứa. Đọc lại cuộc đời của Mô-sê, Vị Tư Tế, Nhà Lănh đạo và Ngôn sứ, chúng ta chừng như gặp thấy ở đó kích thước đầu tiên, căn bản của cuộc đời và ơn gọi linh mục : một ḿnh hiện diện trước Thiên Chúa :

Từ nơi sa mạc Madian, với tiếng gọi thân thương nhưng đầy huyền nhiệm “Môsê, Môsê”, hay trạng ngời khói bốc lửa thiêu trên Núi Thánh Sinai, hoặc lẫm liệt oai nghi trước tế đàn trong Nhà Xếp... Môsê luôn đối diện với Thiên Chúa trong cái cô độc của phận người, trong nổi khắc khoải ưu tư của Người Mục Tử.

Người Mục Tử hôm nay phải chăng cũng là một Môsê mới. Bởi v́ linh mục, phải là người không ngừng vào trong sa mạc của thinh lặng nguyện cầu, của nội tâm sâu lắng để t́m gặp, để thân thưa, để lănh nhận Thánh ư Thiên Chúa. Linh mục nếu không sống chiều kích “cô độc thân mật” nầy, sẽ liều đánh mất căn tính huyền nhiệm đời ḿnh, và sẽ trở thành một công chức, một chuyên viên, một người làm dịch vụ...

Nhưng Môsê dù sao cũng chỉ là một “bóng h́nh”. Điểm qui chiếu cuối cùng cho mọi cuộc đời linh mục muôn nơi và muôn thuở vẫn là Đức Ki-tô, đến nổi trong Hội Thánh đă xuất hiện một danh xưng, một hạn từ như một “cắt nghĩa tóm gọn và cụ thể” :  Linh mục, Alter Christus. Để là Alter Christus, linh mục phải như Đức Kitô và cùng với Đức Kitô dành cả một đời để hiện diện trước Mặt Chúa Cha : trong sa mạc, trên núi cao, trong Vườn Dầu hay trên Thập Giá, Đức Kitô có cả một đời để thinh lặng một ḿnh với Cha. Trong đối thoại thân thương của nguyện cầu hay trong yên lặng của cử hành Hy tế ... Đức Kitô luôn hiện diện trước Thiên Chúa như một “Trung Gian nhiệm mầu”.

Tông huấn Pastores dabo vobis trong đoạn kết số 18 đă cắt nghĩa tư tưởng nầy bằng những lời thâm thuư sau :

“Đời sống và thừa tác vụ linh mục là sự nối dài đời sống và hoạt động của chính Chúa Kitô. Căn tính của chúng ta nằm ở đó, cũng như phẩm giá thực sự của chúng ta, nguồn mạch vui mừng của chúng ta, và niềm tin vững chắc của chúng ta về sự sống”

II. LINH MỤC, NGƯỜI LIÊN ĐỚI VỚI DÂN CHÚA :

          Từ h́nh ảnh của một “Mosê cô độc trước Thiên Chúa”, chúng ta đă t́m tới điểm qui chiếu cuối cùng cho cuộc đời linh mục là chính Đức Kitô, Người Con Một dành cả một đời để đối thoại t́m kiếm thánh ư Cha ; giờ đây chúng ta lại thấy Môsê xuất hiện như một Mục Tử ở giữa Đoàn Dân trong cuộc trường hành từ Ai cập đến xứ Moab, bên ngưỡng cửa tiến vào Hứa địa. Liên đoái với Dân, thuộc về Dân, ở giữa dân... đó là tính cách căn bản của đời Môsê :

Tâm tư ông không bao giờ tách ĺa khỏi dân, cho dù khi chỉ một ḿnh ông đối diện với Thiên Chúa : trước lúc xuất hành, Môsê đă thưa với Chúa : “Nếu quả tôi được nghĩa với Người, xin Chúa tôi khấng đi làm một với chúng tôi, v́ đó là một dân cứng cổ và Người sẽ tha thứ tội lỗi chúng tôi và cho chúng tôi làm cơ nghiệp của Người” (Xh 34,9). Từ “Chúng tôi” ở đây thật cảm động và đầy ư nghĩa. Môsê không đặt ḿnh trên dân, ở ngoài Dân, nhưng hoàn toàn liên đới, đồng hoá với dân, ngay cả khi nhận lănh trách nhiệm tội lỗi của dân ; và chúng ta cũng biết, suốt 40 năm trường hành tŕnh về Đất hứa, Môsê đă sống, đă hiện diện trọn vẹn với đoàn dân, và sau cùng chấp nhận chết ngoài hứa địa, trong xứ Moab để nói lên tính cách liên đới trọn vẹn với thế hệ mà ông đưa dẫn từ Ai cập trở về.

Cũng thế, từ h́nh tượng Môsê, chúng ta lại nh́n về Đức Kitô, người Mục Tử nhân hậu sẵn sàng “hy sinh mạng sống v́ đàn chiên” (Ga 10,11-15), vị Thượng tế xót thuơng anh em ḿnh như lời khẳng định của thư Do Thái : “Vị Thượng tế của chúng ta không phải là Đấng không biêt cảm thương những nổi yếu hèn của chúng ta, v́ Người đă chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta chỉ trừ tội lỗi…” (Dt 4,15-5,1-10). Và Đức Kitô đă chết tủi nhục trên đồi Canvê giữa những tội nhân ngoài thành Giêrusalem...Đó phải chăng là lời chứng cuối cùng để nói lên sự  liên đới với Dân Chúa, với nhân loại.

Linh mục, một Môsê mới, một Alter Christus không thể tách ḿnh ra khỏi Dân Chúa, không thể sống và hành động mà không liên hệ ǵ đến cộng đoàn Hội Thánh, Giáo phận, Giáo xứ. Chúng ta thử cùng nghe những lời chỉ dạy của ĐGH G.P.II trong Tông huấn Pastores dabo vobis khi Ngài lặp lại lời kinh Tiền Tụng trong Ngày Lễ Dầu : “các linh mục có trách nhiệm xả thân phục vụ Dân Cha để nuôi dưỡng họ bằng Lời của Cha và làm cho họ sống bằng các bí tích của Cha ; các linh mục sẽ là những chứng nhân thực sự cho đức tin và đức ái, sẵn sàng hiến mạng sống ḿnh như Đức Kitô đă hiến dâng mạng sống cho đàn em và cho Cha” (số 15)

Kết luận : Như vậy chúng ta có thể kết luận rằng : cho dù sống theo linh đạo nào, cho dù phục vụ trong môi trường nào, cuộc đời linh mục trọn hảo vẫn là dơi theo lối bước của đức Kitô để luôn đặt ḿnh hiện diện, đối thoại thân mật với Thiên Chúa, và khiêm hạ, hiệp thông liên đới với cộng đoàn Dân Chúa trên mọi nẽo đường phục vụ. Xin được muợn lời của chính ĐGH G.P.II trong đoạn kết của Tông huấn Pastores dabo vobis để gởi đến Cha mới như một lời chúc thân t́nh nhất của một bạn đường linh mục :

“Anh em linh mục rất thân mến, sở dĩ anh em xả thân như vậy là bởi v́ chính Chúa, với sức mạnh của Thần Khí, Ngài đă mời gọi anh em làm cho kho tàng vô giá là t́nh yêu của vị Mục Tử Nhân Lành được hiện diện trong những chiếc b́nh sành là cuộc đời khiêm tốn của anh em...Tôi cầu chúc tất cả anh em được ơn canh tân mỗi ngày ân huệ của Thiên Chúa mà anh em đă lănh nhận do việc đặt tay...” ; và cùng với lời chúc đó, cũng xin mượn tiếp lời nguyện kết thúc tông huấn của ĐGH để hiệp với cộng đoàn Dân Chúa đang có mặt hôm nay giờ nầy dâng về Mẹ Maria lời cầu xin cho Cha mới và cho những ai đang cất bước trên nẽo đường linh mục :

Lạy Mẹ Đức Giêsu,

Mẹ đă ở với Ngài vào lúc khửi đầu cuộc sống

Và sứ vụ của Ngài.

Mẹ đă t́m kiếm Ngài, khi Ngài đang làm thầy giữa đám đông,

Mẹ đă đứng kề bên Ngài, khi Ngài được nâng lên khỏi mặt đất,

Hoàn tất mọi sự để trở nên hy lễ duy nhất vĩnh cửu.

Xin hăy đón nhận những kẻ được Chúa mời gọi,

Khi họ cất những bước đầu tiên trên nẽo đường của họ,

Xin hăy che chở cho sự tăng triển của họ,

Xin hăy sát cánh với những người làm con mẹ

trong đời sống và trong thừa tác vụ,

Lạy mẹ là Mẹ các linh mục. Amen !

          BÀI 6 : LINH MỤC, CUỘC HÀNH TR̀NH KHÔNG MỆT MƠI

__________________  

(BÀI GIẢNG LỄ TẠ ƠN KIM KHÁNH LINH MỤC – THƯỢNG THỌ BÁT TUẦN CỦA CHA PHAOLÔ TRƯƠNG ĐẮC CẦN)

(05.08.2003)

Dẫn nhập : Trọng kính ...

          Trong niềm vui sâu lắng tràn ngập tâm t́nh tạ ơn của Thánh lễ hôm nay, Thánh lễ dành riêng để hiệp ư tạ ơn và cầu nguyện trong dịp kỷ niệm 50 linh mục và 80 năm cuộc đời của Cha Phaolô Trương Đắc Cân, tự nhiên con chợt nhớ hai câu thơ của thi hào Kahil Gibran mà thi sĩ Nguyễn Nhật Anh đă chuyển dịch :

          Cám ơn đời mỗi sáng mai thức dậy

          Ta được thêm ngày nữa để yêu thương

          (Wake at dawn with winged heart

          and give thanks for another day of loving!)

Với Cha sở Sông Cầu, th́ sau quảng đường dài thăm thẳm 50 năm trong cuộc hành tŕnh mục tử, và nhất là sau 8 thập kỷ sống giữa trần gian, buổi sáng hôm nay khi thức dậy vẫn c̣n thấy được b́nh minh lên, chim reo hát, nắng tươi hồng...và nhất là trong giờ nầy vẫn c̣n thấy chung quanh ḿnh có bao nhiêu người thân, bao bạn bè, bao học tṛ con cái xúm xít chung quanh để chúc mừng tuổi thọ, để hát câu tạ ơn, chắc Ngài vui lắm, hạnh phúc lắm. Và như thế Thánh lễ tạ ơn hôm nay ư nghĩa biết bao, thân thương biết mấy, không phải chỉ để “cám ơn đời mỗi sáng mai thức dậy, ta được một ngày nữa để yêu thương”, mà c̣n để tạ ơn, cám ơn Thiên Chúa đă yêu thương ǵn giữ Cha qua bao tháng năm dài trong chức linh mục, trong kiếp sống làm người và làm con Thiên Chúa.

          Trong tâm t́nh hiếu thảo mến yêu của một đứa học tṛ, một đứa cháu họ Trương, một con chiên đă được chính Ngài dạy giáo lư, giải tội và trao ban Ḿnh Thánh Chúa lần đầu nơi xứ đạo Trà Câu, con xin được chia sẻ đôi tâm t́nh vụng dại

1. Kim Khánh – Thượng Thọ : Một dịp dừng chân để “nh́n lại cuộc đời” :

          Trước hết, theo con, đây không phải là cái “nh́n lại” mang đầy tâm tư tiêu cực, buồn nản theo kiểu Trịnh Công Sơn : “...Ôi tiếng buồn rơi đều, nh́n lại ḿnh đời đă xanh rêu” (Bài T́nh Xa). Nếu có một thoáng buồn nào đó khi quay về hồi tưởng cả một chặng đường dài của cuộc sống, th́ đó là cái thoáng buồn của tâm t́nh khiêm hạ mến yêu trong trái tim sám hối. Đó chính là tâm t́nh mà người bạn chí cốt của Cha Phaolô, cố linh mục thi si Xuân Văn đă để lại qua những vần thơ như những chứng từ tuyệt đẹp trong bài thơ “Hăy quên đi” của Ngài :

Hăy quay về t́m lại đường ơn gọi

Đường hy sinh sáng chói ư trời cao.

Hăy dừng chân nghe tiếng gọi ngọt ngào

Tiếng Con Chúa th́ thào trên thập giá.

Dừng chân lại nh́n cuộc đời tàn tạ

Như thân cây đang úa lá khô cành,

Nhựa sống thừa không đủ tạo màu xanh

Cho mái tóc,biến nhanh thời hoa mộng.

Hăy cố tạo niềm vui cho cuộc sống

Bằng t́nh thương,bằng Hy Lễ mỗi ngày

Bằng lời thơ d́u dịu toả hương bay

Dâng lên Mẹ với tâm t́nh con thảo .

          Nhưng cốt yếu, đó là “nh́n lại để thấy, để nhận ra một trời hồng ân”. Hơn ai hết, con tin rằng, trong những ngày nầy, Cha Phaolô đă cảm nhận biết bao ơn lành Chúa đă dành cho Cha, bàn tay yêu thương của Ngài đă dắt d́u Cha từ những bước ấu thơ nơi xứ dừa Gia Hựu, đến những ngày êm đềm hồn nhiên của chủng viện Làng Sông...Rồi cho dù trăi qua bao thời binh đao khói lửa chiến tranh, Chúa vẫn giữ ǵn Cha trên mọi nẽo đường từ Lệ Sơn, Đà Nẳng, Thanh Đức, đến Hội An, Mằng Lăng Sông Cầu. Mỗi chặng đường Cha đă đi qua là mỗi chằng đường ghi đậm hồng ân bao la của Thiên Chúa. Và con cũng xin thưa với Cha Phaolô rằng, hôm nay trong dịp kỷ niệm nầy, Cha dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, th́ xin Cha cũng nhận nơi chúng con, nơi Giáo Hội, nơi biết bao con chiên, bao cộng đoàn tâm t́nh tri ân cảm tạ v́ bao hy sinh, chia sẻ, phục vụ của Cha. Chúng con tin rằng, những ǵ Cha đă làm cho Hội Thánh, cho các linh hồn, cho anh em linh mục đă đang và sẽ đơm hoa kết trái.

2. Kim Khánh – Thượng Thọ : một bắt đầu mới

          Khi nói tới mừng Kim Khánh, Thượng Thọ, ai ai cũng có cảm giác rằng : đă già rồi, đă đến lúc nói lời “Bonjour vieillesse, Già ơi... chào bạn !”. Là những người xác tín rằng “Chúa là hoan lạc tuổi xuân tôi”, chúng ta lại cần có cái nh́n tích cực hơn khi chiêm ngắm những cuộc đời “cổ lai hy”, mà chân dung cuộc sống của Cha Phaolô đây là một mô h́nh rơ nét : già mà khoẻ, già mà vui, già mà vẫn tràn đầy niềm tin và hy vọng. Đúng như một nhóm thầy thuốc Pháp, trong cuốn “Savoir se soigner pour bien viellir” (Biết tự chăm sóc để có một tuổi già khoẻ mạnh) đă viết : “Có những người già lúc mới 20 v́ không niềm tin, không hy vọng và những người ngoài 80 c̣n trẻ, v́ đầy ắp những niềm tin và hy vọng...” Điều khẳng định đó cũng đúng như một câu ngạn ngữ chơi chữ của Anh : “Age is mostly a matter of mind ! If you don’ t mind, it doesn’t matter” (Tuổi tác là chuyện cái tâm, nếu ta không thèm quan tâm, chả có vấn đề tuổi tác!). Và có lẽ nhận xét sau đây của nhà văn André Maurois là quân b́nh và xác đáng : “Sau năm sáu chục năm trời nếm trải những thành công và thất bại, hỏi ai c̣n có thể giữ được nguyên vẹn những điểm sung măn thời trẻ. Đi vào hoàng hôn của cuộc đời, như đi vào vùng ánh sáng đă điều hoà, ít chói chang hơn, mắt khỏi bị loá bởi những màu sắc rực rỡ của bao ham muốn. Người ta nh́n mọi vật đứng với thực chất của nó.” . Nhà văn nầy c̣n phát biểu cách thâm thuư rằng : “Nghệ thuật già đó là nghệ thuật duy tŕ niềm hy vọng trong tâm hồn” (Trích từ tác phẩm Già ơi...chào bạn của Đỗ hồng Ngọc). Và như thế, chúng ta có thể nói được rằng : Kim Khánh – Thượng Thọ lại là một bắt đầu mới, một khởi điểm mới hướng về tương lai. Cuộc đời của Cha Phaolô quả thật là một chứng từ sống động cho ư nghĩa nầy.

Kết luận :

Kính thưa... trong ngôn ngữ văn hoá Á Đông, 3 từ sau đây gói ghém tất cả cái toàn vẹn của một kiếp người để ước mơ và hy vọng, để phấn đấu đạt thành : PHƯỚC, LỘC, THỌ. Trong dịp mừng Kim Khánh linh mục và Thượng Thọ Bát Tuần Cha Phaolô, con cũng chỉ biết cầu xin Chúa ban cho Cha được 3 điều nầy theo Cha cho đến hết quảng đường trần gian : Phúc, Lộc, Thọ. Và cũng xin chúc Cha cho dù có nh́n lại quảng đời đă qua để xót xa trăn trở, hay khi phải đối diện với hiện tại và hướng về tương lai để do dự ưu tư, th́ trong mọi nơi mọi lúc Cha luôn t́m thấy “cái phúc thật của Tin Mừng”, hạnh phúc của hôm nay, từng ngày c̣n lại dành cuộc sống để :

          Giọt mến chúa, chắt chiu từng ngày, nâng niu nuôi cuộc sống.

          Giây yêu người, chắp nhặt từng bữa, trau chuốt dệt mùa xuân.

         

          Xin riêng tặng Em Tôma Trương Đ́nh Sơn, nhân ngày Em được “Bước lên Bàn Thánh” để dâng cuộc đời làm “Hiến lễ T́nh Yêu” trong thiên chức linh mục.

                   Anh Sáu : LM. Giuse Trương Đ́nh Hiền